Ngành Công Thương: Tập trung phát triển công nghệ, đổi mới sáng tạo trong các lĩnh vực ưu tiên
Theo đó, về năng lượng, các nhiệm vụ nghiên cứu tập trung phát triển lưới điện thông minh, công nghệ điều độ, vận hành hệ thống điện có tỷ trọng năng lượng tái tạo cao, bảo vệ và tự động hóa trạm biển áp, truyền tải điện ngầm, dưới biển phục vụ điện gió ngoài khơi, thiết bị điện cao áp, điện tử công suất, BESS, hydrogen/amoniac/SAF, nhiên liệu sinh học, CCUS, công nghệ khai thác - chế biến dầu khí, than và giải pháp sử dụng năng lượng hiệu quả; hình thành pilot, tiêu chuẩn và phương án nội địa hóa gắn với hiện trường vận hành.

Ngành điện tích cực ứng dụng khoa học và công nghệ trong quản lý, vận hành
Đối với cơ khí chế tạo, điện - điện tử và công nghiệp hỗ trợ, tập trung làm chủ công nghệ đúc, rèn, nhiệt luyện, xử lý bề mặt, gia công chính xác, linh kiện truyền động, thiết bị công nghiệp; phát triển linh kiện điện tử, cảm biến, vi mạch, vật liệu điện tử và thiết bị điện; xây dựng lộ trình nội địa hóa, năng lực nhà cung cấp và dịch vụ bảo trì đạt chuẩn.
Ngành dệt may, da - giày: Phát triển nguyên phụ liệu trong nước, thiết kế và tạo mẫu, vật liệu bền vũng; công nghệ nhuộm, thuộc da, xử lý nước, tiết kiệm năng lượng và giảm phát thải; số hóa quản trị, truy xuất nguồn gốc và đáp ứng yêu cầu xuất xứ, lao động, môi trường của thị trường.
Về công nghệ cao trong công nghiệp: Triển khai các dự án ứng dụng công nghệ cao xuất phát từ nhu cầu và được ứng dụng, thử nghiệm tại doanh nghiệp theo Khung Chương trình phát triển một số ngành công nghiệp công nghệ cao (Quyết định số 1992/QĐ-BCT).
Bên cạnh đó, với công nghiệp sinh học: Phát triển công nghệ enzyme, lên men, chiết xuất, probiotic, chế biến sinh khối, nhiên liệu và hóa chất sinh học; ứng dụng sinh học trong môi trường, khai khoáng, dầu khí và năng lượng; nội địa hóa thiết bị, nâng cấp phòng thí nghiệm ISO/IEC 17025/GMP, kết hợp AI, dữ liệu và tự động hóa.
Với ngành hóa chất: Phát triển công nghệ sản xuất hóa chất cơ bản, sản phẩm hóa dầu, cao su kỹ thuật, phân bón hàm lượng cao và các sản phẩm thuộc lĩnh vực công nghiệp hóa chất trọng điểm theo Luật Hóa chất và Chiến lược phát triển ngành công nghiệp hóa chất; áp dụng nguyên tắc hóa học xanh, an toàn hóa chất, tuần hoàn dung môi, nước và chất thải; ưu tiên sản phẩm có tiêu chuẩn, thị trường và khả năng thay thế nhập khẩu.
Đặc biệt, về công nghiệp vật liệu, Kế hoạch của Bộ Công Thương nêu rõ tập trung phát triển, làm chủ công nghệ và hình thành chuỗi sản phẩm đối với sáu nhóm vật liệu ưu tiên gồm: Một là, vật liệu kim loại, hợp kim đặc chủng: Thép chất lượng cao, thép ray, thép điện kỹ thuật, thép tấm cường độ cao cho công trình biển, bình áp lực và kết cấu điện gió; nhôm và hợp kim nhôm định hình, đồng tinh luyện, hợp kim titan; vật liệu bột, lớp phủ chịu mài mòn, ăn mòn, nhiệt độ cao.
Hai là, vật liệu từ đất hiếm và kim loại chiến lược: Oxit đất hiếm độ tinh khiết cao, kim loại, hợp kim đất hiếm và nam châm vĩnh cửu cho động cơ điện, tuabin gió; niken, coban, vonfram, apatit - photpho phục vụ pin và công nghiệp nền tảng.
Ba là, vật liệu năng lượng: Vật liệu điện cực, điện giải, màng ngăn cho pin lithium-ion, natri-ion, pin thể rắn; xúc tác, màng trao đổi và vật liệu lưu trữ hydrogen; vật liệu cách điện, bán dẫn công suất.
Bốn là, polyme, composite và vật liệu nano-carbon: Polyme kỹ thuật, composite sợi carbon, CNTs, graphene, silica tiên tiến, cao su kỹ thuật, xơ sợi và da tổng hợp xanh, polyme phân hủy sinh học.
Năm là, hóa chất tinh khiết, hóa chất điện tử - bán dẫn, khí điện tử, gốm kỹ thuật oxit tinh khiết, vật liệu và linh kiện từ tính, điện tử.
Sáu là, vật liệu xanh, tuần hoàn từ xỉ luyện kim, tro xỉ, bùn đỏ, chất thải công nghiệp và công nghệ luyện kim phát thải thấp. Phát triển nền tảng thiết kế vật liệu bằng dữ liệu và trí tuệ nhân tạo, bản sao số quá trình luyện kim - hóa học; cơ sở dữ liệu vật liệu ngành; hạ tầng thử nghiệm, chứng nhận vật liệu đạt ISO/IEC 17025 và hệ thống tiêu chuẩn vật liệu mới hài hòa quốc tế. Mỗi nhóm vật liệu gắn với chuỗi sản phẩm, doanh nghiệp dẫn dắt và địa chỉ ứng dụng cụ thể trong ngành.

Tập trung phát triển, làm chủ công nghệ sản xuất thép chất lượng cao
Về công nghiệp hóa dược: Triển khai Chương trình phát triển công nghiệp hóa dược đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 theo ba hướng công nghệ: Tổng hợp hóa học dược chất và trung gian hóa dược cho thuốc thiết yếu, thuốc generic hết hạn bảo hộ và thuốc điều trị bệnh mạn tính, ưu tiên công nghệ dòng liên tục, xúc tác chọn lọc, xúc tác sinh học và hóa học xanh, gắn với nguồn nguyên liệu từ các tổ hợp lọc hóa dầu, hóa chất cơ bản trong nước; sinh tổng hợp và công nghệ sinh học công nghiệp: Lên men, enzyme, chủng vi sinh tái tổ hợp sản xuất kháng sinh, vitamin, axit amin và trung gian bán tổng hợp; chiết tách, tinh chế dược chất, cao định lượng, tinh dầu giàu hoạt chất từ dược liệu có lợi thế của Việt Nam bằng công nghệ chiết siêu tới hạn, sắc ký điều chế, kết tinh và tinh chế đạt tiêu chuẩn GMP, dược điển quốc tế.
Phát triển tá dược, khoáng chất bổ sung, vitamin và nguyên liệu cho thực phẩm bảo vệ sức khỏe, dược mỹ phẩm từ nguyên liệu trong nước; làm chủ công nghệ nền tảng sản xuất hóa dược theo GMP/ICH Q7, thiết kế theo chất lượng (QbD), công nghệ phân tích quá trình (PAT), sản xuất liên tục và số hóa nhà máy; hình thành kilo-lab, xưởng pilot GMP dùng chung và hệ thống kiểm nghiệm, tiêu chuẩn nguyên liệu làm thuốc.
Đối với khai thác, chế biến khoáng sản và luyện kim: Ưu tiên đổi mới, hoàn thiện công nghệ và thiết bị theo hướng cơ giới hóa, tự động hóa, thông minh hóa; ứng dụng trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, bản sao số, cảm biến và kết nối thời gian thực trong thiết kế, điều hành mỏ, quản trị tài nguyên, an toàn lao động, an toàn mỏ và bảo vệ môi trường.
Phát triển công nghệ phù hợp điều kiện địa chất - kỹ thuật của mỏ lộ thiên, hầm lò và quy mô doanh nghiệp; nâng cao năng suất, mức thực thu, thu hồi khoáng sản chính và thành phần có ích đi kèm; giảm tổn thất tài nguyên, tiêu hao năng lượng, nước, vật tư và phát thải; chế tạo, nội địa hóa thiết bị, phụ tùng và hệ thống điều khiển phục vụ khai thác, chế biến khoáng sản và luyện kim.
Tập trung làm chủ chuỗi công nghệ từ tuyển, làm giàu đến thủy luyện, chiết tách, phân chia, tinh luyện và chế biến sâu tạo sản phẩm có giá trị gia tăng cao phục vụ công nghiệp bán dẫn, vật liệu pin, năng lượng mới và các ngành công nghiệp nền tảng. Ưu tiên thu hồi tài nguyên từ quặng nghèo, khoáng sản đi kèm, quặng đuôi, bùn đỏ và nguồn thứ cấp; tuần hoàn nước, hóa chất và chất thải; bảo đảm an toàn hóa chất, an toàn bức xạ và môi trường.
Đối với công nghiệp môi trường, các nhiệm vụ ưu tiên làm chủ, phát triển và chế tạo trong nước công nghệ, thiết bị, sản phẩm thuộc Danh mục ngành công nghiệp môi trường, tập trung vào xử lý và tái sử dụng nước thải; xử lý khí thải công nghiệp; phân loại, thu gom, tái chế và xử lý chất thải rắn, chất thải nguy hại, thu hồi năng lượng từ chất thải; quan trắc, giám sát môi trường tự động, liên tục; hóa chất, chế phẩm sinh học, vật liệu và vật tư phục vụ xử lý ô nhiễm; thiết bị khắc phục sự cố và công nghệ chế tạo thiết bị bảo vệ môi trường.
Phát triển các hệ thống xử lý tích hợp, tự động hóa, tiết kiệm năng lượng, có khả năng kết nối và truyền dữ liệu; nâng tỷ lệ nội địa hóa thiết bị, linh kiện, vật liệu và chế phẩm; bảo đảm sản phẩm đạt tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật và có khả năng vận hành ổn định trong điều kiện Việt Nam. Ưu tiên dự án sản xuất thử nghiệm, mô hình trình diễn tại doanh nghiệp, khu công nghiệp và cụm công nghiệp có dữ liệu hiệu quả kinh tế - môi trường trước và sau áp dụng; xây dựng bộ tiêu chí, tiêu chuẩn kỹ thuật, cơ sở dữ liệu năng lực cung ứng - nhu cầu thị trường và mô hình kết nối viện, trường, doanh nghiệp để thúc đẩy chuyển giao, thương mại hóa, thay thế nhập khẩu và từng bước tham gia thị trường quốc tế.
Về thương mại, logistics và chuỗi cung ứng: Phát triển nền tảng dữ liệu, dự báo thị trường, logistics thông minh, bản sao số, truy xuất nguồn gốc, hộ chiếu số sản phẩm, thương mại điện tử và công cụ cảnh báo rủi ro chuỗi cung ứng; ưu tiên khả năng liên thông, an toàn dữ liệu và nhân rộng.


