'Vắc-xin' củ riềng của người Mông và vườn sinh thái giữa rừng của cựu trưởng bản
| Ở miền núi, sinh kế mới không nhất thiết phải bắt đầu từ những thứ thật mới mà có thể bắt đầu chính từ những gì đã có: một mảnh đất, một cánh rừng, một giống cây bản địa, một món ăn, một tri thức truyền đời… Điều cốt lõi là khơi dậy và trả lại giá trị cho chính mảnh đất, cánh rừng, giống cây bản địa, tri thức dân gian và bản sắc văn hóa của đồng bào. Từ đó, giúp người Thái, người Mông, người Mường… không chỉ thoát nghèo mà vươn lên "làm chủ cuộc chơi" nông nghiệp sinh thái - hữu cơ ngay trên mảnh đất quê hương mình, tạo sức sống mới mà không đánh mất gốc rễ nguồn cội. Tuyến bài “Sức sống bản địa và hệ sinh kế sinh thái - hữu cơ trên đỉnh Sơn La: Khi đất lành nuôi người miền núi” sẽ cho thấy rõ điều này. Bài 1: Người phụ nữ Mường 'đánh thức' lúa tẻ râu, mở sinh kế mới giữa 'bản 4 không' |
Quyết định khác thường của cựu trưởng bản
Giữa cái lạnh chớm thu tạt qua những tán rừng nguyên sinh đại ngàn của vùng cao Vân Hồ, khu vườn cây ăn quả rộng lớn của gia đình anh Tráng A Cao hiện ra xanh mướt. Ít ai ngờ rằng, trước khi trở thành "đầu tàu" đưa nông sản hữu cơ của người Mông ra thị trường, người đàn ông này từng có 25 năm liên tục đảm nhiệm vai trò Bí thư Chi bộ kiêm Trưởng bản Hua Tạt.

Suốt chặng đường dài gắn bó với công việc cộng đồng, anh Tráng A Cao đã trăn trở biết bao đêm khi chứng kiến vòng lặp nghèo khó của dân bản. Bà con làm nương rẫy cực nhọc nhưng nông sản làm ra hay bị thương lái ép giá, chi phí phân bón và hạt giống ngày càng đắt đỏ. Tình trạng được mùa mất giá khiến nhiều người trẻ trong bản nản lòng, đành rời bỏ quê nhà xuống xuôi làm công nhân tại các khu công nghiệp.
Năm 2018, anh Cao đưa ra một quyết định khiến cả bản ngỡ ngàng: xin rút khỏi chức vụ cán bộ bản để toàn tâm toàn ý thành lập Hợp tác xã Nông nghiệp A Cao, rồi mạnh dạn làm theo hướng sinh thái - hữu cơ.


Trầm ngâm nhớ lại bước ngoặt ấy, anh Tráng A Cao bộc bạch: "Ngày xưa người Mông mình chỉ biết cầm cuốc xẻng trồng ngô, trồng lúa một vụ rồi phun thuốc trừ cỏ tràn lan làm đất đồi chai sần, nguồn nước bị ô nhiễm. Muốn giữ người trẻ ở lại bản thì quê hương phải tạo ra sinh kế sống được. Muốn dân tin và làm theo nông nghiệp sạch, mình phải là người bước xuống ruộng làm trước. Nghỉ làm cán bộ bản để tập trung cho hợp tác xã là để mình dồn trọn tâm trí chứng minh cho bà con thấy: nông nghiệp sinh thái - hữu cơ hoàn toàn có thể giúp làm giàu bền vững".
Anh Tráng A Cau, Bí thư Chi bộ kiêm Trưởng bản Hua Tạt hiện nay cho hay: "Trước đây, thói quen phun thuốc trừ cỏ và thuốc bảo vệ thực vật hóa học đã cắm sâu vào đời sống bà con. Mỗi kỳ họp bản, chính quyền đều kiên trì tuyên truyền về tác hại của hóa chất tới sức khỏe và môi trường. Từ khi mô hình hợp tác xã của anh Cao được triển khai và phát huy hiệu quả, nhận thức của người Mông ở Hua Tạt đã thay đổi rõ rệt. Bà con hiểu rằng lùi một bước để tiến ba bước, chấp nhận hai năm đầu sản lượng giảm để làm sạch đất thì về sau nông sản mới có giá trị cao và bán được bền vững".

Đến giờ, Hợp tác xã A Cao đã quy tụ 7 hộ gia đình thành viên người Mông với tổng diện tích canh tác từ 15-20 ha. Tất cả các hộ tham gia Hợp tác xã đều đã thoát nghèo, thu nhập bình quân mỗi năm đạt từ 500-600 triệu đồng.
Gia đình anh Cao mạnh dạn đầu tư 3 chiếc xe tải loại 2,5 tấn để chủ động vận chuyển nông sản sạch cung ứng cho các chuỗi cửa hàng thực phẩm uy tín tại Hà Nội và các tỉnh miền Bắc.
Không dừng lại ở việc bán quả tươi, Hợp tác xã Nông nghiệp A Cao còn hướng tới chế biến sâu các sản phẩm thảo dược như dầu gội, sữa tắm cô đặc từ lá tía tô, sài đất để nâng cao giá trị gia tăng.
Nhát cuốc "khai sơn" giữa cơn khát nước và gian nan thiếu điện
Nhìn ngắm những triền đồi xanh tươi hôm nay, ít ai hình dung nổi những ngày đầu lập nghiệp, anh Tráng A Cao cùng các thành viên Hợp tác xã đã phải vật lộn với những thiếu thốn hạ tầng tưởng chừng không thể vượt qua.
Nằm ở vùng cao dốc đứng, Hua Tạt thường xuyên đối mặt với những cơn khát nước kéo dài. Từ tháng 2 đến tháng 4 hàng năm, thời tiết khô hạn khiến nguồn nước ngầm sụt giảm nghiêm trọng. Có những khi khô hạn đỉnh điểm, nước sinh hoạt hàng ngày cho người dân còn thiếu thốn, nói gì đến nước tưới cho hàng chục hecta cây ăn quả. Muốn có nước sản xuất, các hộ gia đình phải gom góp tiền bạc tự khoan giếng sâu xuyên qua tầng đá núi, nhưng không phải hố khoan nào cũng tìm thấy mạch nước.
Chưa dừng lại ở đó, bài toán hạ tầng điện lực cũng là một thử thách lớn. Anh Cao nhớ lại, để kéo được đường điện về phục vụ sản xuất và sinh hoạt, dự án nhà nước hỗ trợ 600 triệu đồng nhưng người dân Hua Tạt cũng phải tự nguyện bỏ tiền túi ra thêm 140 triệu đồng. Nhiều hộ gia đình gom góp đến 35 triệu đồng - một khoản tiền rất lớn thời bấy giờ - để chung tay kéo dây, dựng cột. Thế nhưng, qua nhiều năm, đường điện vẫn chưa được ngành điện lực nâng cấp đồng bộ.



Trong cái khó ló cái khôn, chính gian nan thiếu điện, thiếu nước đã kích hoạt tư duy sáng tạo "thích ứng linh hoạt" của cựu trưởng bản. Anh tính toán: nếu tưới theo phương pháp phun mưa truyền thống thì lượng nước tích trữ trong bể không bao giờ đủ. Thế nên anh quyết định đầu tư xây dựng các bể chứa nước dung tích 10 khối và lắp đặt hệ thống tưới nhỏ giọt tiết kiệm nước.
"Nếu mình tưới phun mưa tràn lan thì bể 10 khối nước chỉ loáng cái là hết sạch. Mình đưa ống dẫn nhỏ giọt đến tận từng gốc cây, mỗi béc tưới chỉ tập trung làm ẩm đúng diện tích 2m² quanh bộ rễ. Hệ thống này vừa châm phân lỏng hữu cơ (đạm cá), vừa tưới nước hòa tan, chỉ cần chạy máy bơm 7 - 10 phút là cây đã hấp thụ đủ. Vừa tiết kiệm từng giọt nước quý giá, vừa không tốn điện chạy máy lâu, lại giảm bớt được biết bao nhân công gánh nước", anh Cao chia sẻ bí quyết.
Bài thuốc vi sinh 'thuận thiên' và độc chiêu giữ cỏ nuôi đất
Hành trình biến những quả đồi trọc thành vườn sinh thái - hữu cơ của anh Tráng A Cao không hề bằng phẳng mà trải qua không ít thất bại.
Ban đầu, anh trồng thử nghiệm mận và hơn 1.000 gốc bưởi đỏ, bưởi Diễn, bưởi da xanh. Tuy nhiên, do thời tiết Hua Tạt mát mẻ, bưởi thu hoạch bị chua, bán giá rất rẻ. Anh quyết định chặt bỏ toàn bộ 1.000 cây bưởi để đúc rút bài học xương máu: "Không ép đất làm thứ mình muốn, phải trồng thứ mà thiên nhiên muốn nuôi".
Sau đó, anh chuyển hướng sang trồng các loại cây ăn quả hợp thổ nhưỡng như cam canh, quýt đường, lê, hồng giòn và các giống bơ cải tạo (bơ 034, bơ Booth), đồng thời xen canh cà chua thân gỗ lấy giống từ Đà Lạt để tạo cảnh quan đón khách trải nghiệm.





Có những mùa quýt đường, ban đầu mang đi bán người ta nhầm là cam. Nhờ vị ngọt đậm đà tự nhiên, về sau toàn bộ 20-30 tấn quýt của vườn được du khách và các cửa hàng rau sạch thu mua hết chỉ trong vòng một tháng rưỡi.
Điểm độc đáo nhất trong phương thức canh tác của anh Tráng A Cao chính là việc sáng tạo các bài thuốc vi sinh "thuận thiên" từ tri thức dân gian người Mông. Thay vì chi từ 3-5 triệu đồng cho mỗi lần phun thuốc hóa học độc hại, anh Cao tự chế biến "vắc-xin" xua đuổi sâu bệnh bằng cách ngâm ủ củ riềng, tam thất, đương quy, men rượu, kết hợp với vi sinh nuôi từ sữa chua, mật rỉ đường và đạm cá. Chế phẩm thảo mộc này khi phun không tận diệt côn trùng mà chỉ xua đuổi sâu hại, bảo vệ sức khỏe người lao động và hệ sinh thái xung quanh.
Bên cạnh đó là bí quyết "sống chung với cỏ". Hợp tác xã Nông nghiệp A Cao tuyệt đối không dùng thuốc trừ cỏ mà dùng máy phát cỏ 3 lần mỗi năm. Lớp cỏ bị cắt tự ngấm phân hủy tạo thành tầng phủ hữu cơ dày tơi xốp, giữ ẩm cho đất đồi dốc khỏi xói mòn trong mùa mưa bão và tạo môi trường sống cho các loài thiên địch như bọ rùa, nhện, châu chấu...

Đánh giá về mô hình của Hợp tác xã Nông nghiệp A Cao với góc nhìn của thành viên Mạng lưới nông nghiệp sinh thái Đông Nam Á - ALiSEA, Tiến sĩ nông học Phạm Thị Thu Hương (Viện Cây lương thực và thực phẩm) nhận định: "Nông nghiệp sinh thái cốt lõi là phải dựa trên nguyên tắc thuận theo tự nhiên và có kiến thức khoa học để lắng nghe đất, cây trồng. Việc bà con người Mông cùng anh A Cao kiên trì không dùng thuốc trừ cỏ, tự chế biến dung dịch vi sinh thảo mộc từ củ riềng, tam thất và ứng dụng hệ thống tưới nhỏ giọt tiết kiệm nước là một sáng tạo rất giá trị. Quá trình chuyển đổi từ hóa học sang sinh thái đòi hỏi khoảng thời gian thử thách 2-3 năm để tự nhiên phục hồi độ phì nhiêu và cân bằng hệ sinh thái. Sự kiên trì của anh Cao đã chứng minh rằng khi trả lại sự khỏe mạnh cho đất, đất sẽ trả lại những sản phẩm lành ngọt nhất".

Trở lại khu vườn sinh thái giữa đại ngàn Hua Tạt của cựu trưởng bản Tráng A Cao, ngắm nhìn những chùm chanh, chùm bơ... trĩu mọng dưới nắng thu, chúng tôi cảm nhận rõ sức sống mới trên vùng cao Sơn La.
Cuộc "cách mạng" sinh thái - hữu cơ do cựu trưởng bản Tráng A Cao khởi xướng đã chứng minh một triết lý giản dị: Khi người Mông biết trân trọng và sống thuận theo tự nhiên, đất lành sẽ nuôi sống con người, mở ra con đường làm giàu bền vững ngay trên mảnh đất quê hương.



