Khắc phục hậu quả bom mìn: Giải phóng đất đai không phải là đích đến cuối cùng
(Bqp.vn) - Sau nhiều thập kỷ kể từ khi chiến tranh kết thúc, bom mìn, vật nổ còn sót lại vẫn là một trong những trở ngại lớn đối với quá trình phát triển kinh tế - xã hội ở nhiều địa phương. Những năm qua, với sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng, Nhà nước, Bộ Quốc phòng và Ban Chỉ đạo Quốc gia khắc phục hậu quả bom mìn và chất độc hóa học sau chiến tranh ở Việt Nam (Ban Chỉ đạo 701), công tác điều tra, khảo sát, rà phá bom mìn đã đạt nhiều kết quả quan trọng, từng bước trả lại những diện tích đất an toàn cho người dân và địa phương.

Cán bộ, chiến sĩ Trung tâm Bom mìn 20, Tổng công ty 36 (Bộ Quốc phòng) tiến hành khoanh vùng rà phá ở thành phố Huế. (ảnh: VNMAC)
Tuy nhiên, từ thực tiễn triển khai, yêu cầu đặt ra đối với công tác khắc phục hậu quả bom mìn không chỉ dừng ở việc làm sạch một diện tích đất. Điều quan trọng hơn là sau khi được rà phá, diện tích đất đó được sử dụng như thế nào, tạo ra những thay đổi gì đối với đời sống người dân và đóng góp ra sao cho phát triển kinh tế - xã hội. Đây cũng là cách tiếp cận đang được đặt ra trong Chương trình Hành động quốc gia khắc phục hậu quả bom mìn vật nổ sau chiến tranh giai đoạn 2026 - 2045.
Từ diện tích đất được rà phá đến giá trị tạo ra sau rà phá
Tại Hội thảo quốc tế “Khắc phục hậu quả bom mìn và các mục tiêu phát triển bền vững: Bài học kinh nghiệm của Dự án Làng Hòa bình Việt Nam - Hàn Quốc” (hội thảo) được tổ chức tại Hà Nội, các đại biểu, chuyên gia trong nước và quốc tế tập trung trao đổi về mối liên hệ giữa khắc phục hậu quả bom mìn với các mục tiêu phát triển bền vững. Một trong những nội dung được nhấn mạnh là: Giải phóng đất đai không phải là đích đến cuối cùng của công tác khắc phục hậu quả bom mìn. Giá trị của đất sau rà phá chỉ được phát huy đầy đủ khi diện tích đất an toàn được đưa vào sử dụng, phục vụ sản xuất, xây dựng cơ sở hạ tầng, cải thiện sinh kế và tạo ra những lợi ích thiết thực cho cộng đồng.

Đại tá Nguyễn Văn Cường phát biểu tại hội thảo.
Đại tá Nguyễn Văn Cường, Phó Tổng Giám đốc Trung tâm Hành động bom mìn quốc gia Việt Nam (VNMAC) cho rằng, diện tích đất được giải phóng vẫn là chỉ tiêu quan trọng của Chương trình, bởi đây là kết quả trực tiếp, cụ thể và có thể đo lường của công tác điều tra, khảo sát, rà phá. Tuy nhiên, nếu chỉ lấy số héc-ta được rà phá làm thước đo thì chưa phản ánh đầy đủ giá trị mà công tác khắc phục hậu quả bom mìn mang lại cho phát triển kinh tế - xã hội. Theo đó, trong Chương trình Hành động quốc gia khắc phục hậu quả bom mìn vật nổ sau chiến tranh giai đoạn 2026 - 2045, đất được rà phá phải tiếp tục được đưa vào sử dụng hiệu quả, góp phần bảo đảm an toàn cho Nhân dân và tạo điều kiện thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững.
Tư duy này cho thấy sự chuyển dịch từ cách tiếp cận chủ yếu dựa trên kết quả trực tiếp của hoạt động rà phá sang đánh giá kết quả sử dụng đất và những tác động tiếp theo đối với đời sống, kinh tế - xã hội. Có thể hình dung chuỗi kết quả đó từ việc xác định khu vực ô nhiễm, giải phóng đất, bàn giao đất an toàn đến đưa đất vào sử dụng, tạo lợi ích cho người dân và cuối cùng là đóng góp cho phát triển bền vững.
Theo cách tiếp cận này, đánh giá hiệu quả công tác khắc phục hậu quả bom mìn cần được xem xét trên nhiều phương diện. Trước hết là kết quả trực tiếp, gồm diện tích được điều tra, khảo sát, rà phá; số lượng bom mìn, vật nổ được thu gom, xử lý an toàn và diện tích đất sạch bàn giao cho địa phương. Tiếp đó là hiệu quả sử dụng đất, trong đó quan tâm đến việc diện tích sau rà phá có thực sự được đưa vào sản xuất, xây dựng đường giao thông, trường học, cơ sở y tế, bố trí dân cư hay phục vụ các công trình phát triển khác hay không. Xa hơn nữa là những thay đổi đối với đời sống người dân như sinh kế, thu nhập, khả năng tiếp cận các dịch vụ thiết yếu và những đóng góp cụ thể đối với mục tiêu phát triển của địa phương.
Như vậy, một diện tích đất được rà phá chỉ là điểm khởi đầu của một chuỗi giá trị, chứ chưa phải kết quả cuối cùng của quá trình khắc phục hậu quả bom mìn.
Từ một dự án cụ thể nhìn ra cách làm mới
Dự án “Hành động bom mìn vì Làng Hòa bình Việt Nam - Hàn Quốc” (KVPVP) là một trong những ví dụ rõ về cách tiếp cận tích hợp giữa khắc phục hậu quả bom mìn và phát triển cộng đồng.

Lực lượng rà phá bom mìn thuộc KVPVP phát hiện một quả bom nặng 500 bảng tại thành phố Huế. (ảnh: VNMAC)
Dự án do VNMAC làm chủ dự án, sử dụng hơn 14 triệu USD vốn ODA không hoàn lại của Chính phủ Hàn Quốc thông qua Cơ quan Hợp tác Quốc tế Hàn Quốc (KOICA), với sự phối hợp kỹ thuật của Chương trình Phát triển Liên hợp quốc (UNDP). Dự án được triển khai tại thành phố Huế, Quảng Ngãi và Gia Lai, hướng tới xây dựng các cộng đồng nông thôn an toàn, phát triển và có khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu.
Điểm đáng chú ý của KVPVP là hoạt động rà phá bom mìn được đặt trong mối quan hệ với các hoạt động hỗ trợ phát triển khác. Cùng với xử lý ô nhiễm bom mìn, dự án triển khai các hoạt động hỗ trợ y tế, phục hồi chức năng, đào tạo nghề, hỗ trợ vốn, công cụ sản xuất và các mô hình sản xuất nông nghiệp thích ứng với biến đổi khí hậu. Những diện tích đất sau rà phá được gắn với nhu cầu sử dụng cụ thể của cộng đồng, từ sản xuất nông nghiệp đến xây dựng cơ sở hạ tầng.
Theo báo cáo nghiên cứu đánh giá do Trung tâm Quốc tế Geneva về Rà phá bom mìn nhân đạo (GICHD) với Dự án KVPVP cho thấy, các hoạt động tích hợp của Dự án KVPVP có tác động đến 16 trong số 17 Mục tiêu Phát triển Bền vững (SDGs) của Liên hợp quốc và ít nhất 69 chỉ tiêu SDGs cụ thể.

Bà Francesca Nardini phát biểu tại hội thảo.
Phó Trưởng Đại diện thường trú UNDP tại Việt Nam Francesca Nardini đánh giá kinh nghiệm từ KVPVP cho thấy giá trị của việc kết nối các hoạt động khắc phục hậu quả bom mìn với những can thiệp phát triển rộng hơn, trong đó có phát triển cơ sở hạ tầng có khả năng chống chịu và sinh kế bền vững.
Từ góc độ khác, bà Greta Zeender, Trưởng bộ phận Quan hệ đối ngoại, Chính sách và Quan hệ với các nhà tài trợ của GICHD cho rằng, KVPVP cho thấy mối liên hệ giữa hòa bình và phát triển ở cấp quốc gia, khi việc loại bỏ nguy cơ bom mìn được thực hiện đồng thời với hỗ trợ người sống sót, các hộ gia đình dễ bị tổn thương, phát triển sinh kế nông thôn và đầu tư vào cơ sở hạ tầng có khả năng chống chịu với biến đổi khí hậu.
Thực tiễn đó cho thấy, nếu công tác rà phá được gắn ngay từ đầu với nhu cầu phát triển của địa phương thì giá trị của “đất sạch” có thể được phát huy nhanh hơn, trực tiếp hơn. Khi một khu đất được xác định để xây dựng trường học, trạm y tế, đường giao thông hoặc phát triển sản xuất, việc ưu tiên xử lý ô nhiễm bom mìn tại khu vực đó không chỉ giải quyết một nguy cơ an toàn mà còn tháo gỡ một điểm nghẽn cụ thể của quá trình phát triển.
Để đất sạch thực sự trở thành nguồn lực
Từ kinh nghiệm của KVPVP, yêu cầu đặt ra trong giai đoạn 2026 - 2045 là tăng cường sự phối hợp giữa công tác khắc phục hậu quả bom mìn với quy hoạch và kế hoạch phát triển của các địa phương.
Ở cấp Trung ương, cần phát huy vai trò điều phối giữa Bộ Quốc phòng với các bộ, ngành liên quan, qua đó từng bước gắn nguồn lực dành cho khắc phục hậu quả bom mìn với các chương trình, dự án phát triển kinh tế - xã hội, giảm nghèo, phát triển nông thôn và quy hoạch sử dụng đất. Ở cấp địa phương, nhu cầu phát triển cần được xem xét đồng thời với hiện trạng ô nhiễm bom mìn để xác định khu vực cần ưu tiên xử lý, tránh tình trạng đất được rà phá nhưng phải mất thêm thời gian dài mới được đưa vào sử dụng.
Trình tự này có thể bắt đầu từ một nhu cầu phát triển cụ thể: Địa phương xác định khu vực cần xây dựng hoặc phát triển, đánh giá mức độ ô nhiễm bom mìn, lập kế hoạch rà phá, bàn giao đất an toàn và tổ chức triển khai dự án. Khi đó, hoạt động rà phá không tách rời quy hoạch phát triển mà trở thành một khâu phục vụ trực tiếp cho việc thực hiện quy hoạch.
Cùng với cơ chế phối hợp, dữ liệu ngày càng giữ vai trò quan trọng trong việc xác định thứ tự ưu tiên. VNMAC đang hướng tới xây dựng Hệ thống kết nối thông tin và theo dõi kết quả khắc phục hậu quả bom mìn gắn với phát triển, trong đó dữ liệu về ô nhiễm và kết quả rà phá được tích hợp liên thông với các thông tin về quy hoạch sử dụng đất, phát triển kinh tế - xã hội, dân cư, hỗ trợ nạn nhân bom mìn, giảm nghèo, hệ thống hạ tầng và các yếu tố về biến đổi khí hậu. Khi các nguồn dữ liệu được kết nối, câu hỏi đặt ra không chỉ còn là khu vực nào còn bom mìn, mà quan trọng hơn là khu vực nào cần được ưu tiên xử lý để đáp ứng nhu cầu phát triển trước mắt và lâu dài của địa phương; sau khi được giải phóng, diện tích đất đó đã được sử dụng như thế nào và tạo ra kết quả gì.
Theo Đại tá Nguyễn Văn Cường, định hướng này sẽ từng bước đưa dữ liệu khắc phục hậu quả bom mìn từ chỗ chủ yếu phục vụ quản lý hoạt động rà phá sang phục vụ việc xác định ưu tiên và ra quyết định phát triển. Đây cũng là cơ sở để việc huy động nguồn lực quốc tế có thể chuyển dần từ hỗ trợ riêng cho hoạt động rà phá sang hỗ trợ cả chuỗi kết quả sau rà phá. Khi nhà tài trợ, cơ quan quản lý và địa phương cùng nhìn thấy rõ diện tích nào được xử lý, đất được sử dụng vào mục đích gì và người dân được hưởng lợi như thế nào, hiệu quả của nguồn lực đầu tư sẽ được đánh giá đầy đủ hơn.
Giá trị cuối cùng là những thay đổi trên chính mảnh đất được giải phóng
Khắc phục hậu quả bom mìn sau chiến tranh trước hết là nhiệm vụ bảo đảm an toàn cho Nhân dân, nhưng giá trị của nhiệm vụ đó không dừng lại ở việc loại bỏ những nguy cơ còn sót lại dưới lòng đất. Mỗi diện tích đất được giải phóng đều mở ra khả năng phục vụ một mục đích phát triển cụ thể; từ nơi ở, trường học, cơ sở y tế, đường giao thông đến đất sản xuất và các công trình phục vụ đời sống.
Vì vậy, bước vào giai đoạn thực hiện Chương trình Hành động quốc gia khắc phục hậu quả bom mìn sau chiến tranh giai đoạn 2026 - 2045, yêu cầu đặt ra không chỉ là rà phá được bao nhiêu héc-ta, mà còn là bao nhiêu diện tích trong số đó được sử dụng hiệu quả, tạo ra những công trình gì, mở thêm bao nhiêu cơ hội sinh kế và đem lại những thay đổi nào cho người dân.
Đó là bước chuyển từ tư duy “làm sạch đất” sang phát huy giá trị của đất sau rà phá; từ đo đếm kết quả của một hoạt động kỹ thuật sang nhìn nhận đầy đủ hơn những giá trị kinh tế - xã hội được tạo ra từ hoạt động đó. Khi mỗi diện tích đất an toàn tiếp tục được đưa vào sử dụng đúng mục đích, phục vụ đời sống và phát triển, công tác khắc phục hậu quả bom mìn mới phát huy đầy đủ ý nghĩa của mình trong tiến trình phát triển nhanh và bền vững của đất nước.



