Chính phủ trình Quốc hội Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của 3 Luật về thuế
Sáng 23/10, tại nhà Quốc hội, thừa ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn trình bày Tờ trình về 5 dự án Luật do Bộ Tài chính chủ trì soạn thảo trong đó có Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp, Luật Thuế sử dụng đất phi nông nghiệp, Luật Thuế thu nhập cá nhân; Chủ nhiệm Uỷ ban Kinh tế và Tài chính Phan Văn Mãi trình bày báo cáo thẩm dự dự án Luật.

Bộ trưởng Ngô Văn Tuấn trình bày Tờ trình Dự án Luật trước Quốc hội sáng 23/10. Ảnh: Đức Thanh
Về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp, Luật Thuế sử dụng đất phi nông nghiệp, Luật Thuế Thu nhập cá nhân (Dự án Luật), Bộ trưởng Ngô Văn Tuấn cho biết, thực hiện Chương trình lập pháp năm 2026, Chính phủ đã có Tờ trình số 886/TTr-CP ngày 11/10/2026 báo cáo Quốc hội về dự án Luật.
Bộ trưởng nhấn mạnh, việc xây dựng dự án Luật là cần thiết, nhằm thực hiện chủ trương của Đảng, Nhà nước tại Nghị quyết số 71-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo, Nghị quyết số 72-NQ/TW của Bộ Chính trị về một số giải pháp đột phá, tăng cường bảo vệ và nâng cao sức khỏe nhân dân, Nghị quyết số 21-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về quan điểm, định hướng sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan và xử lý một số vấn đề vướng mắc, phát sinh trên thực tiễn.
Đề xuất bổ sung 1 số quy định miễn thuế cho doanh nghiệp, cá nhân kinh doanh
Về các nội dung cơ bản của Dự án Luật, Bộ trưởng cho biết: Dự án Luật sửa đổi, bổ sung khoản 5 Điều 15 Luật Thuế Thu nhập doanh nghiệp (TNDN) về miễn thuế TNDN đối với cơ sở giáo dục, không phân biệt công lập hay tư thục hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận để thực hiện chủ trương của Đảng tại Nghị quyết số 71-NQ/TW.
Đồng thời, bổ sung quy định miễn thuế TNDN, thuế thu nhập cá nhân (TNCN) đối với thu nhập của doanh nghiệp, cá nhân kinh doanh dịch vụ cung cấp suất ăn cho cơ sở giáo dục, cơ sở khám bệnh, chữa bệnh.
Cùng với việc thực hiện các chính sách miễn, giảm, gia hạn thuế, phí, lệ phí, tiền thuê đất, Chính phủ đề xuất bổ sung quy định miễn thuế đối với thu nhập của doanh nghiệp, cá nhân cư trú từ cung cấp suất ăn cho cơ sở giáo dục, cơ sở khám bệnh, chữa bệnh, để góp phần hỗ trợ cho các doanh nghiệp, cá nhân kinh doanh trong việc giảm chi phí đối với việc cung cấp suất ăn cho cơ sở giáo dục, cơ sở khám bệnh, chữa bệnh, thúc đẩy việc hình thành các cơ sở cung cấp suất ăn quy mô lớn, tuân thủ đầy đủ các quy định về an toàn thực phẩm, qua đó giảm chi phí cho người học, người bệnh.
Quy định miễn thuế này áp dụng đối với cả doanh nghiệp cung cấp suất ăn nộp thuế TNDN theo tỷ lệ % trên doanh thu.
Về thuế sử dụng đất phi nông nghiệp (SDĐPNN), Dự thảo Luật bổ sung quy định trường hợp miễn thuế SDĐPNN của cơ sở giáo dục tại Điều 9 Luật Thuế SDĐPNN để thực hiện chủ trương của Đảng tại Nghị quyết số 71-NQ/TW.
Đồng thời, bổ sung quy định miễn thuế SDĐPNN đối với đất ở trong hạn mức của người dân tộc thiểu số tại vùng đồng bào dân tộc và miền núi theo quy định của Chính phủ tại Điều 9 Luật Thuế SDĐPNN để thực hiện chủ trương của Đảng tại Nghị quyết số 21-NQ/TW.
Cùng với đó, bổ sung quy định về thuế suất 0,2% đối với đất bỏ hoang, đất không đưa vào sử dụng, đất chậm đưa vào sử dụng tại Điều 7 Luật Thuế SDĐPNN để thực hiện chủ trương của Đảng tại Nghị quyết số 21-NQ/TW.
“Đây là mức thuế suất cao nhất tại Luật Thuế SDĐPNN hiện hành, tương đương với thuế suất đối với đất lấn, chiếm và gấp gần 7 lần đất ở trong hạn mức. Đất bỏ hoang, đất không đưa vào sử dụng, đất chậm đưa vào sử dụng được xác định theo quy định của pháp luật đất đai.”, Bộ trưởng cho biết.

Toàn cảnh phiên họp Quốc hội sáng 23/10. Ảnh: Đức Thanh
Cùng với đó, sửa đổi, hoàn thiện quy định về đăng ký, khai, tính và nộp thuế SDĐPNN tại Điều 8 Luật Thuế SDĐPNN để phù hợp với tên gọi theo tổ chức bộ máy hành chính mới sau sắp xếp.
Tán thành đề xuất thu thuế đất bỏ hoang, không đưa vào sử dụng, chậm đưa vào sử dụng
Trình bày báo cáo thẩm tra về dự án Luật, Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế và Tài chính của Quốc hội Phan Văn Mãi cho biết, Ủy ban Kinh tế và Tài chính cơ bản thống nhất sự cần thiết sửa đổi, bổ sung Dự án Luật như Tờ trình của Chính phủ. Hồ sơ Dự án Luật đã đủ thành phần quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật.
Về Luật miễn thuế TNDN cho cơ sở giáo dục công lập, cơ sở giáo dục tư thục hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận, Ủy ban Kinh tế và Tài chính nhất trí miễn thuế TNDN cho các cơ sở giáo dục tư thục hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận. Nhiều ý kiến cho rằng, trong điều kiện nguồn lực hỗ trợ còn hạn chế của NSNN hiện nay, chính sách ưu đãi miễn thuế TNDN cần được cân nhắc, có sự phân biệt giữa các đơn vị tư thục và công lập, qua đó, gián tiếp tác động đến các nhóm đối tượng người học khác nhau. Chính sách ưu đãi, hỗ trợ cần được tập trung vào các nhóm đối tượng kém thuận lợi, tránh khoản sụt giảm của NSNN lại được dành cho các đối tượng thụ hưởng có thu nhập cao. Một số ý kiến đề nghị cần cân nhắc kỹ lưỡng việc đề xuất và thiết kế chính sách này nhằm đảm bảo đúng đối tượng, mang lại thụ hưởng trực tiếp cho người học, đồng thời quy định rõ tiêu chí, điều kiện được miễn thuế, giải pháp bảo đảm quản lý chặt chẽ, cơ chế giám sát hiệu quả, tránh bị trục lợi chính sách.
Về miễn thuế TNDN, thuế TNCN đối với thu nhập từ cung cấp suất ăn cho cơ sở giáo dục, cơ sở khám bệnh, chữa bệnh, Ủy ban Kinh tế và Tài chính cho rằng, bảo đảm an toàn chất lượng bữa ăn cho học sinh là yêu cầu rất cần thiết. An toàn thực phẩm là yêu cầu chung đối với các đối với mọi cơ sở cung cấp dịch vụ cung cấp thức ăn và đang được bảo đảm bằng các công cụ quản lý chuyên ngành. Trong trường hợp mục tiêu là hỗ trợ học sinh, sinh viên, người bệnh, đề nghị Chính phủ nghiên cứu chính sách hỗ trợ trực tiếp cho các đối tượng này để đảm bảo lợi ích đến được đối tượng cần được hỗ trợ.
Về thuế suất với đất bỏ hoang, không đưa vào sử dụng, chậm đưa vào sử dụng, Ủy ban Kinh tế và Tài chính cơ bản tán thành đề xuất của Chính phủ để thể chế hóa Nghị quyết số 21. Tuy nhiên, về mức thuế suất, cần làm rõ mối quan hệ với mức thuế suất 0,15% đang áp dụng đối với đất chưa sử dụng theo quy định.
Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế và Tài chính cho biết, Dự thảo đất đai sửa đổi mới có khái niệm về đất bỏ hoang, chưa có khái niệm về đất không đưa vào sử dụng, chậm đưa vào sử dụng. Đồng thời quy định cả tiền sử dụng đất, tiền thuê đất tăng thêm đối với dự án chậm đưa đất vào sử dụng. Do đó, Ủy ban Kinh tế và Tài chính đề nghị Chính phủ thống nhất khái niệm, tiêu chí đối với Luật Đất đai sửa đổi, tránh trùng lắp nghĩa vụ tài chính đối với cùng một trường hợp. Đồng thời, quy định rõ trách nhiệm, xác định, công bố và chia sẻ thông tin với cơ quan thuế để chính sách được khả thi.
Về quy định miễn thuế sử dụng đất phi nông nghiệp đối với đất sử dụng vào mục đích giáo dục và đào tạo, Ủy ban Kinh tế và Tài chính đề nghị làm rõ căn cứ, phạm vi áp dụng để phù hợp với Nghị quyết 71-NQ/TW bởi Nghị quyết 71 đề ra giải pháp giảm tiền thuế đất với các cơ sở giáo dục trong nước trong khi dự thảo luật miễn thuế đất cho tất cả các cơ sở giáo dục kể cả cơ sở có vốn đầu tư nước ngoài.
Về hiệu lực thi hành, Chính phủ trình Quốc hội xem xét, thông qua Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp, Luật Thuế sử dụng đất phi nông nghiệp, Luật Thuế thu nhập cá nhân tại Kỳ họp Quốc hội tháng 10/2026; đề xuất Luật có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2027. Dự kiến, chiều nay, Quốc hội sẽ tiến hành thảo luận tại Tổ về Dự án Luật này.
HP


