Cổng thông tin điện tử Đảng Cộng Sản Việt Nam
Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch
A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Ẩm thực trên màn ảnh: "Quyền lực mềm" từ nghệ thuật kể chuyện

Từ điện ảnh, truyền hình đến video ngắn, ẩm thực đang trở thành chất liệu quan trọng để kể câu chuyện văn hóa, tạo sức hấp dẫn cho điểm đến và góp phần hình thành hình ảnh quốc gia. Những kinh nghiệm từ Pháp, Hàn Quốc, Nhật Bản và Thái Lan cho thấy, khi được đặt trong câu chuyện và kết nối với du lịch, một món ăn có thể vượt ra khỏi giá trị tiêu dùng để trở thành nguồn lực của “quyền lực mềm”.

Khi món ăn trở thành câu chuyện trên màn ảnh

Trong bối cảnh toàn cầu hóa và công nghiệp văn hóa phát triển, ẩm thực không còn chỉ đáp ứng nhu cầu ăn uống. Món ăn ngày càng trở thành phương tiện thể hiện bản sắc, truyền tải giá trị văn hóa và góp phần xây dựng hình ảnh quốc gia.

Điện ảnh, truyền hình và các nền tảng video số tạo ra không gian để ẩm thực được “nhìn thấy”, “nghe thấy” và lan truyền đến công chúng. Nếu trong đời sống, món ăn được cảm nhận bằng vị giác, khứu giác và xúc giác thì trên màn ảnh, món ăn được chuyển hóa thành hình ảnh, âm thanh, ánh sáng, màu sắc, không gian, nhịp điệu và cảm xúc.

Việt Nam có nguồn tài nguyên ẩm thực phong phú, đa dạng theo vùng miền, gắn với lịch sử, phong tục, ký ức cộng đồng và đời sống xã hội. Đây được xem là nguồn lực quan trọng để phát triển “quyền lực mềm”- sức hấp dẫn khiến công chúng muốn tìm đến, yêu thích và đồng cảm thông qua văn hóa, hình ảnh và cách ứng xử.

Theo tham luận “Ẩm thực trên màn ảnh: “Quyền lực mềm” từ nghệ thuật kể chuyện, Bài học kinh nghiệm toàn cầu và Cơ hội cho Việt Nam” của PGS.TS. Đỗ Lệnh Hùng Tú, Chủ tịch Hội Điện ảnh Việt Nam tại Hội thảo Văn hóa ẩm thực và Du lịch Gia Lai 2026, chiến lược đưa ẩm thực lên màn ảnh cần kết hợp ba tầng: điện ảnh, truyền hình/OTT và video ngắn.

Trong đó, điện ảnh tạo ra những câu chuyện lớn, hình ảnh có chiều sâu và giá trị lâu dài. Truyền hình, OTT đưa ẩm thực vào đời sống nhân vật với thời lượng dài hơn. Video ngắn lại có khả năng tách một khoảnh khắc hấp dẫn thành nội dung lan truyền.

Có thể khái quát: phim tạo ra câu chuyện, truyền hình mở rộng câu chuyện, video ngắn làm câu chuyện lan truyền và du lịch biến câu chuyện thành trải nghiệm.

Thực tế, nhu cầu du lịch hiện nay không chỉ dừng ở tham quan, nghỉ dưỡng mà ngày càng gắn với trải nghiệm văn hóa, khám phá phong tục, đặc sản và đời sống địa phương. Du khách muốn biết một vùng đất có câu chuyện gì, người dân sống ra sao, có món ăn nào đặc trưng và những giá trị văn hóa nào tạo nên sự khác biệt.

Bởi vậy, ẩm thực có thể trở thành một điểm chạm trực tiếp, gần gũi và giàu cảm xúc giữa du khách với điểm đến.

Ảnh minh họa

Từ Pháp, Hàn Quốc, Nhật Bản đến Thái Lan

Một trong những trường hợp được đề cập là bộ phim Muôn vị nhân gian của đạo diễn gốc Việt Trần Anh Hùng, với sự cố vấn về nghệ thuật ẩm thực của đầu bếp Pierre Gagnaire. Tác phẩm giành giải Đạo diễn xuất sắc nhất tại Liên hoan phim Cannes 2023 và được chọn là đại diện của điện ảnh Pháp tranh tài tại hạng mục Phim truyện quốc tế hay nhất của Giải Oscar 2024.

Bộ phim được ví như một “bữa tiệc điện ảnh” về ẩm thực. Những cảnh quay cận, đặc tả quá trình nấu nướng giúp món ăn trở thành một phần của ngôn ngữ điện ảnh. Ẩm thực không đứng ngoài câu chuyện mà được kết nối với tình yêu, tình tri kỷ, sự gắn kết và tình yêu cuộc sống.

Qua những chi tiết về chế biến, trình bày và thưởng thức, bộ phim tái hiện sự tinh tế trong văn hóa ăn uống của người Pháp. Khán giả không chỉ xem món ăn mà còn được dẫn dắt vào không gian, nhịp điệu và cảm xúc của câu chuyện.

Hàn Quốc lại cho thấy sức mạnh của truyền hình. Nàng Dae Jang Geum tập trung vào văn hóa ẩm thực cung đình, với kim chi và nhiều món ăn đặc trưng. Bộ phim được xuất khẩu đến hơn 50 nước trên thế giới. Theo tài liệu, sau khi tác phẩm được phát hành và phổ biến, nhận thức về hình ảnh quốc gia Hàn Quốc cũng như sự quan tâm đến tài nguyên du lịch và văn hóa ẩm thực xứ Hàn gia tăng.

Điểm đáng chú ý là món ăn được đặt trong câu chuyện về số phận nhân vật, các mối quan hệ và những biến cố. Cách thể hiện này giúp ẩm thực xuất hiện tự nhiên thay vì trở thành hình thức quảng cáo trực tiếp.

Tương tự, Tối nay ăn gì? đưa hình ảnh, màu sắc và mùi vị của bữa ăn vào câu chuyện tâm lý, tình cảm gia đình. Từ những hình ảnh trên màn ảnh, các địa điểm và không gian xuất hiện trong phim có thể khơi dậy sự tò mò, dẫn dắt khán giả tìm đến những điểm đến từng được nhìn thấy.

Nhật Bản đưa ra một bài học khác khi kết hợp văn hóa đại chúng, không gian địa phương và trải nghiệm đời sống. Anime, điện ảnh và truyền hình Nhật Bản thường đưa các món ăn như sushi, sashimi, ramen, tempura, udon, soba, yakitori, tonkatsu, okonomiyaki, mochi… vào câu chuyện.

Trong Oshin, món cơm củ cải xuất hiện trong hoàn cảnh nghèo đói, góp phần thể hiện cuộc sống và sự chịu đựng của nhân vật. Khi điều kiện sống của Oshin dần thay đổi, những bữa ăn cũng thay đổi theo, giúp người xem nhận ra sự chuyển biến của hoàn cảnh và sự phân tầng xã hội.

Bên cạnh đó, Nhật Bản chú trọng xây dựng văn hóa ẩm thực Washoku thành thương hiệu quốc gia, nhấn mạnh sự đa dạng và tươi ngon của nguyên liệu, chế độ ăn cân bằng, vẻ đẹp tự nhiên và sự thay đổi của các mùa, cùng mối liên hệ với lễ hội và phong tục cộng đồng.

Bài học được rút ra là: không chỉ giới thiệu món ăn mà cần xây dựng thế giới văn hóa xung quanh món ăn.

Với Thái Lan, ẩm thực được đặt trong một hệ sinh thái phát triển sức hấp dẫn quốc gia. Chuỗi giá trị được hình thành từ món ăn đến nhà hàng, tiêu chuẩn, thương hiệu, thị trường quốc tế và hình ảnh quốc gia.

Ẩm thực đường phố được kết hợp với du lịch, sự kiện, lễ hội, sân khấu thực cảnh, ca múa nhạc, điện ảnh, ánh sáng và văn hóa đại chúng. Du khách đến nhiều địa phương không chỉ để ăn mà còn để ngắm, nghe, chụp hình, quay video và trải nghiệm không khí ăn uống.

Từ đó, kinh nghiệm được nhấn mạnh là Thái Lan không chỉ “bán món ăn cho du khách”, mà bán cả trải nghiệm văn hóa thông qua món ăn.

Việt Nam: từ quảng bá món ăn đến kiến tạo trải nghiệm

Với Việt Nam, sự đa dạng ẩm thực theo vùng miền tạo ra nguồn chất liệu lớn cho sáng tạo điện ảnh. Từ phở, nem rán, bún chả, bún ốc, bánh cuốn, xôi xéo ở Hà Nội; nem chua, bánh đa Thanh Hóa; ẩm thực cung đình, bánh Huế, bún bò Huế; đến mỳ Quảng, cao lầu; cơm tấm, bánh xèo, bánh khọt, các loại mắm, ba khía và hệ thống rau, củ, gia vị phong phú của phương Nam.

Mỗi món ăn có thể gắn với một không gian địa lý, lịch sử, cộng đồng, ký ức hoặc lối sống. Vì thế, một món ăn trên màn ảnh không chỉ là món ăn mà còn có thể “cõng” theo hình ảnh một thành phố, ký ức của nhân vật, dấu hiệu của một tầng lớp xã hội, biểu tượng gia đình hay dấu ấn vùng miền.

Từ món ăn có thể bắt đầu một câu chuyện; từ câu chuyện mở ra một vùng đất; từ vùng đất mở ra một hành trình. Theo hướng này, cần chuyển từ quảng bá món ăn sang kể chuyện về món ăn; từ giới thiệu địa điểm sang kiến tạo trải nghiệm; từ một vài bộ phim đơn lẻ sang hệ sinh thái nội dung; từ ẩm thực như sản phẩm tiêu dùng sang ẩm thực như tài nguyên văn hóa và quyền lực mềm.

Điều quan trọng là không phải cứ đưa nhiều món ăn vào phim thì sẽ tạo hiệu quả quảng bá. Vấn đề nằm ở cách món ăn tham gia vào cấu trúc câu chuyện. Ẩm thực có thể đồng thời là yếu tố thị giác, không gian, nhân vật, ký ức và biểu tượng văn hóa.

Khi đó, điện ảnh, truyền hình và video nội dung số không chỉ giúp thế giới nhìn thấy Việt Nam mà còn góp phần giúp công chúng hiểu Việt Nam, muốn đến Việt Nam và tiếp tục trải nghiệm Việt Nam.

Một hệ sinh thái có thể được hình thành theo chuỗi: Điện ảnh → Truyền thông → Điểm đến → Du lịch → Nhà hàng → Nông sản → Làng nghề → Sản phẩm văn hóa → Thương hiệu. Tác phẩm nghe nhìn khi đó không chỉ dừng ở màn ảnh mà có thể tạo ra nhu cầu du lịch, mở rộng thị trường cho nhà hàng, nông sản, làng nghề và các sản phẩm văn hóa địa phương.

Trong hệ sinh thái này, truyền hình có lợi thế về tính thường xuyên và khả năng tiếp cận số đông. Video ngắn tạo thêm một tầng truyền thông có khả năng lan truyền nhanh, tạo tò mò và khuyến khích cộng đồng cùng kể câu chuyện về ẩm thực, môi trường và nơi mình sinh sống.

Tài liệu cũng đề xuất xây dựng một hệ sinh thái thống nhất giữa điện ảnh, truyền hình, video ngắn và du lịch. Một bộ phim có thể kéo theo phim hậu trường, video về bối cảnh, nội dung về món ăn, tour tham quan địa điểm quay, sản phẩm lưu niệm, trải nghiệm ẩm thực và nội dung trên mạng xã hội. Đây là điểm giao nhau giữa kinh tế sáng tạo và kinh tế du lịch.

Để thực hiện, các giải pháp được đề xuất gồm xây dựng chiến lược liên kết giữa điện ảnh, truyền hình, nội dung số và du lịch; xây dựng ngân hàng dữ liệu về văn hóa ẩm thực; khuyến khích sản xuất video ngắn chất lượng; xây dựng câu chuyện xoay quanh nguyên liệu, người làm, cách làm, lịch sử, phong tục và không gian thưởng thức; đồng thời gắn nội dung với các sản phẩm du lịch cụ thể.

Một yêu cầu khác là tăng cường hợp tác giữa nhà làm phim, nghệ sĩ, người sáng tạo nội dung, doanh nghiệp du lịch và cộng đồng địa phương. Năm nguồn lực này được xác định tương ứng với năng lực kể chuyện, khả năng tạo cảm xúc, hiểu biết công nghệ số, nắm bắt thị trường và tri thức, thực hành văn hóa tại địa phương.

Từ những kinh nghiệm trên, ẩm thực Việt Nam có cơ sở để được nhìn nhận như một nguồn tài nguyên văn hóa giàu tiềm năng kể chuyện. Khi được chuyển hóa thành nội dung sáng tạo trên màn ảnh và nền tảng số, ẩm thực có thể trở thành cầu nối giữa văn hóa, con người, điểm đến và du lịch.

Mục tiêu đặt ra là chủ động tham gia vào dòng chảy quảng bá toàn cầu, ứng dụng các công nghệ số tiên tiến để bảo tồn, tôn vinh và nâng tầm vị thế văn hóa ẩm thực Việt Nam thành nguồn tài nguyên quyền lực mềm quốc gia.


CTTĐT / bvhttdl.gov.vn
Bình luận

Các tin khác

Tin đọc nhiều