Cổng thông tin điện tử Đảng Cộng Sản Việt Nam
Đồng Nai
A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

[Loạt Megastory] Từ Văn Miếu - Quốc Tử Giám đến Văn miếu Trấn Biên: Mạch nguồn văn hóa trên vùng đất phương Nam (Kỳ 1)

Văn Miếu - Quốc Tử Giám với không gian, kiến trúc trầm mặc. Ảnh: Văn Miếu - Quốc Tử Giám

Văn Miếu - Quốc Tử Giám được khởi lập vào cuối thế kỷ XI ở phía Nam kinh thành Thăng Long, là một quần thể gồm Văn Miếu và Quốc Tử Giám. Văn Miếu thờ Khổng Tử, các bậc hiền triết Nho giáo và Tư nghiệp Quốc Tử Giám (Hiệu trưởng) Chu Văn An - người thầy tiêu biểu đạo cao, đức trọng của nền giáo dục Việt Nam. Quốc Tử Giám là nơi học tập của con, em Hoàng thân và văn thần tại Kinh đô và cũng là trường đại học đầu tiên của Việt Nam. Sự ra đời và hoạt động của Văn Miếu - Quốc Tử Giám cũng gắn với chiều dài lịch sử dân tộc trải qua các thời kỳ: thời Lý (1009-1225), thời Trần (1225-1400), thời Lê sơ (1428-1527), thời Mạc/Lê Trung Hưng (1527-1789), thời Nguyễn (1802-1945)…

Theo các tư liệu lịch sử, năm 1070 vua Lý Thánh Tông (1054-1072) cho dựng Văn Miếu. Đại Việt sử ký toàn thư ghi lại sự kiện dựng Văn Miếu: "Năm Canh Tuất, niên hiệu Thần Vũ thứ 2 (1070) đời Lý Thánh Tông, mùa thu tháng 8 làm Văn Miếu, đắp tượng Khổng Tử, Chu Công và Tứ phối, vẽ tượng Thất thập nhị hiền, bốn mùa cúng tế. Hoàng thái tử đến học ở đây".

Năm 1075, khoa thi Nho học đầu tiên được tổ chức. Đến năm 1076, vua Lý Nhân Tông cho xây nhà Quốc Tử Giám kề sau Văn Miếu. Khi mới xây dựng, trường chỉ dành riêng cho con vua và con các bậc đại quyền quý (nên gọi tên là Quốc Tử). Từ năm 1253, vua Trần Thái Tông cho mở rộng Quốc Tử Giám và thu nhận cả con cái thường dân có học lực xuất sắc. Đời vua Trần Minh Tông, Chu Văn An được cử làm quan Quốc Tử Giám Tư nghiệp (Hiệu trưởng) và thầy dạy trực tiếp của các hoàng tử.

Trải qua nhiều biến thiên lịch sử, năm 1954, Nhà nước tiến hành tu bổ Văn Miếu - Quốc Tử Giám và di tích này chính thức được công nhận là Di tích lịch sử văn hóa cấp Quốc gia vào năm 1962. Đến năm 2012, Văn Miếu - Quốc Tử Giám được công nhận là Di tích Quốc gia đặc biệt.

Các em nhỏ vui chơi tại góc nghệ thuật truyền thống trong khuôn viên Văn Miếu - Quốc Tử Giám. Ảnh: Văn Miếu - Quốc Tử Giám

Nhắc đến Văn Miếu - Quốc Tử Giám, không thể thiếu Khuê Văn Các - công trình kiến trúc nổi bật với tầng gác vuông, mái ngói và những ô cửa tròn. Hình ảnh này đã trở thành biểu tượng quen thuộc của Hà Nội, xuất hiện trong đời sống văn hóa, giáo dục và trên nhiều ấn phẩm giới thiệu về thủ đô. Công trình tuy không đồ sộ song có vẻ đẹp hài hòa, cân đối. Kiến trúc gồm 4 trụ gạch vuông (85cm x 85cm) bên dưới đỡ tầng gác phía trên. Tầng trên có 4 cửa hình tròn, hàng lan can con tiện và con sơn đỡ mái bằng gỗ đơn giản, mộc mạc. Mái ngói chồng 2 lớp tạo thành công trình 8 mái, gờ mái và mặt mái phẳng. Gác là một lầu vuông 8 mái, bốn bên tường gác là cửa sổ tròn hình mặt trời tỏa tia sáng. Hai bên Khuê Văn các là Bi Văn Môn và Súc Văn Môn dẫn vào 2 khu nhà bia tiến sĩ.

Khu nhà bia tiến sĩ cũng là điểm nhấn đặc sắc của Văn Miếu - Quốc Tử Giám - nơi khắc ghi tên tuổi các bậc hiền tài, đồng thời tôn vinh truyền thống hiếu học, trọng dụng nhân tài của dân tộc Việt Nam qua các triều đại. Theo sách “Văn Miếu Quốc Tử Giám & danh ngôn Khổng Tử (Nguyễn Văn Tú sưu tầm và biên soạn - năm 2008), bia tiến sĩ được dựng trong thời gian gần 300 năm (1484-1780) nên kích thước và hình dáng khác nhau, nhưng đều được tạo bằng một loại đá xanh và cùng đặt trên lưng rùa. Mỗi tấm bia được dựng để ghi họ tên, quê quán những người đỗ của một khoa thi, vì vậy, dù khác nhau về kích thước, trang trí nghệ thuật, nhưng ý nghĩa của bia đều như nhau. Trên bia khắc niên đại tổ chức khoa thi, ca ngợi triều vua đang trị vì, lý do mở khoa thi, tên và chức tước của các quan tổ chức kỳ thi, sau đó là tên và quê quán những người đỗ theo thứ tự từ cao xuống thấp.

Bia tiến sĩ tại Văn Miếu Quốc Tử Giám. Ảnh: Văn Miếu Quốc Tử Giám

Mang trong mình những giá trị lịch sử, văn hóa của tinh thần trọng học, Văn Miếu - Quốc Tử Giám biểu trưng cho quan niệm coi trọng tri thức và người tài trong lịch sử dân tộc. Tư tưởng ấy được Thân Nhân Trung khái quát sâu sắc trong bài văn khắc trên bia tiến sĩ khoa Nhâm Tuất niên hiệu Đại Báo thứ 3 (1442): “Hiền tài là nguyên khí của quốc gia”. Lời khẳng định không chỉ đề cao vai trò của người tài đối với sự hưng thịnh của đất nước, mà còn nhấn mạnh trách nhiệm của xã hội trong việc phát hiện, bồi dưỡng và trọng dụng nhân tài.

Sức hấp dẫn của Văn Miếu - Quốc Tử Giám không chỉ nằm ở một công trình riêng lẻ. Toàn bộ quần thể với các lớp không gian, sân vườn, hồ nước, nhà bia và những công trình thờ tự tạo nên một chỉnh thể kiến trúc có tính biểu tượng. Mỗi lớp không gian gợi mở một bước tiến vào thế giới của đạo học: từ bên ngoài đến nơi tôn vinh tri thức, từ cảnh quan đến những dấu tích của lịch sử giáo dục.

Ghé thăm Văn Miếu - Quốc Tử Giám trong một lần đến thủ đô Hà Nội, anh Nguyễn Quốc Hưng (phường Trấn Biên, thành phố Đồng Nai) bộc bạch: “Tôi và con đều rất thích thú khi trong không gian, kiến trúc trầm mặc của Văn Miếu lại có nhiều hoạt động văn hóa thu hút được các bạn trẻ tham gia. Có những em học sinh, sinh viên đến thăm bia tiến sĩ để cầu mong cho kỳ thi được suôn sẻ, nhưng cũng có nhiều bạn tham gia trải nghiệm công nghệ khi khám phá di tích, lịch sử dân tộc, các sinh hoạt văn hóa như: vẽ tranh, viết thư pháp, tái hiện kỳ thi xưa... Qua đó có thể thấy di tích vẫn đang sống trong lòng xã hội hiện đại, góp phần lưu giữ ký ức, khuyến khích học tập và truyền tải những chuẩn mực tinh thần”.

Nữ sinh thành kính trước khu bia Tiến sĩ, gửi gắm mong muốn học hành thuận lợi, thi cử suôn sẻ. Ảnh: TTXVN
Học sinh chụp ảnh lưu niệm tại Văn Miếu - Quốc Tử Giám. Ảnh: Văn Miếu - Quốc Tử Giám

Trải qua nhiều thế kỷ, tinh thần hiếu học, tôn sư trọng đạo và trọng dụng hiền tài thể hiện trong Văn Miếu - Quốc Tử Giám dần trở thành những giá trị bền vững trong đời sống văn hóa Việt Nam. Những giá trị ấy theo bước chân các thế hệ người Việt trên hành trình mở mang bờ cõi, hòa vào những vùng đất mới, cùng cư dân dựng xây đời sống cộng đồng.

Văn miếu Trấn Biên nhìn từ trên cao. Ảnh: Lò Văn Hợp

Được xây dựng năm 1715, Văn miếu Trấn Biên (phường Trấn Biên, thành phố Đồng Nai) là văn miếu đầu tiên ở Nam Bộ - biểu tượng của truyền thống hiếu học, tôn sư trọng đạo và trọng dụng hiền tài trên vùng đất phương Nam. Việc dựng Văn miếu trên vùng đất mới cho thấy ngay trong quá trình mở cõi, các thế hệ tiền nhân đã coi trọng việc dựng nền văn hóa, mở mang việc học, đào tạo con người và trọng dụng hiền tài. Văn miếu vì thế trở thành một biểu tượng cho sự tiếp nối mạch nguồn văn hiến dân tộc từ kinh kỳ Thăng Long đến mảnh đất phương Nam. Trên vùng đất từng được xem là nơi biên viễn, sự hiện diện của Văn miếu Trấn Biên khẳng định văn hóa và đạo học không có ranh giới Bắc - Nam. Những giá trị về tôn sư trọng đạo, hiếu học, trọng hiền tài được mang theo trong hành trình mở đất, bén rễ và hòa vào đời sống cộng đồng, từng bước tạo nên bản sắc văn hóa riêng của vùng đất Đồng Nai - Nam Bộ.

Văn miếu Trấn Biên ngày nay gồm 2 khu liền nhau: khu thờ phụng, tế lễ và khu trưng bày truyền thống, sinh hoạt văn hóa. Khu thờ phụng gồm nhà Bái đường thờ Bác Hồ và các danh nhân văn hóa tiêu biểu của Việt Nam, những danh nhân văn hóa gắn liền với vùng đất Biên Hòa - Đồng Nai và Nam Bộ xưa. Khu sinh hoạt truyền thống gồm các công trình: Khuê Văn Các, Nhà bia truyền thống, Thư khố, Văn vật khố, sân Đại bái...

Giáo viên và học sinh thành phố Đồng Nai tìm hiểu Nhà bia tại Văn miếu Trấn Biên. Ảnh: Nhật Hạ

Có thể nói, Văn miếu Trấn Biên là sự tiếp nối và phát huy giá trị tinh thần, mạch nguồn của Văn miếu ở Thăng Long và các văn miếu khác của nước ta. Khi vào từ Văn miếu môn, mỗi người dân, du khách sẽ gặp Nhà bia Văn miếu. Trên nền đá xanh Bửu Long, bài Văn bia “Trấn Biên - Đồng Nai - Rạng rỡ ngàn năm văn hiến” do GS, Anh hùng lao động Vũ Khiêu chấp bút biên soạn được khắc vào 2 mặt bia đá. Bài văn bia được viết theo thể phú gồm 8 khổ, mỗi khổ có 10 câu, thể hiện khái quát quá trình lịch sử từ thuở khai hoang mở cõi đến xây dựng quê hương Đồng Nai. Trong đó có đoạn Dựng xây văn miếu: “Từ Lễ Thành hầu, xung Kinh lược sứ/ Ổn định biên cương, vệ phòng lãnh thổ/ Đi về xa mã: tưng bừng dinh thự Trấn Biên/ Xuôi ngược ghe thuyền: rộn rã cù lao Đại Phố/ Xây cao văn miếu, tiếp thu thành tựu Bắc - Nam/ Mở rộng học đường, khai thác tinh hoa kim cổ”.

Ngoài Văn bia đặt trước Văn miếu môn, còn có các Văn bia đặt ở Nhà bái đường. Đặc biệt là tấm bia tiến sĩ phục chế lại từ tấm bia ở Văn Miếu - Quốc Tử Giám, do Thành ủy - HĐND - UBND - Ủy ban MTTQ Việt Nam thành phố Hà Nội, Trung tâm Hoạt động văn hóa khoa học Văn Miếu - Quốc Tử Giám trao tặng. Bia làm bằng đá tảng lớn, nặng 2,8 tấn, được đặt trên lưng rùa đá, khắc bài ký bia tiến sĩ khoa Nhâm Tuất niên hiệu Đại Báo thứ 3 (1442), do danh sĩ Thân Nhân Trung soạn: “Hiền tài là nguyên khí của quốc gia. Nguyên khí thịnh thì thế nước mạnh mà hưng thịnh. Nguyên khí suy thì thế nước yếu mà thấp hèn. Vì thế các bậc đế vương thánh minh chẳng ai không coi việc kén chọn kẻ sĩ, bồi dưỡng nhân tài, vun trồng nguyên khí quốc gia làm công việc cần kíp...”.

Kiến trúc Văn miếu Trấn Biên cũng có nhiều nét tương đồng với Văn Miếu - Quốc Tử Giám ở Hà Nội, tiêu biểu là công trình Khuê Văn Các. Không chỉ tạo điểm nhấn trong tổng thể kiến trúc truyền thống, Khuê Văn Các còn mang ý nghĩa biểu tượng cho tri thức, văn chương và tinh thần hiếu học. Theo tư liệu lịch sử, năm 1794 trong một lần trùng tu Văn miếu Trấn Biên, Khuê Văn Các được dựng chính giữa sân trước, treo trống chuông trên đấy. Trong lần trùng tu thứ 2 vào năm Tự Đức thứ 5 (Nhâm Tý, 1852), Khuê Văn Các có 2 tầng, 3 gian 2 chái. Ngày nay, Khuê Văn Các được phục dựng theo tinh thần kế thừa di sản văn hóa truyền thống, với ô cửa tròn tượng trưng cho sao Khuê và kiến trúc gác 2 tầng, 3 tầng mái. Đáng chú ý, hình ảnh Khuê Văn Các tại Văn miếu Trấn Biên không chỉ gợi nhớ Khuê Văn Các tại Văn Miếu - Quốc Tử Giám mà còn mang ý nghĩa kết nối truyền thống đạo học từ Bắc vào Nam.

Giữa lòng Đồng Nai hôm nay, nhiều hiện vật và chi tiết kiến trúc tại Văn miếu Trấn Biên vẫn kể câu chuyện về sự kết nối với Văn Miếu - Quốc Tử Giám. Từ kiến trúc, bia đá "Hiền tài là nguyên khí quốc gia", trống hội Thăng Long đến những tác phẩm nghệ thuật đặc biệt, tất cả tạo nên một nhịp cầu văn hóa nối Thăng Long ngàn năm văn hiến với mảnh đất phương Nam năng động, nghĩa tình.

Tết Nguyên tiêu tại Văn miếu Trấn Biên. Ảnh: Lò Văn Hợp

baodongnai.com.vn
Bình luận

Các tin khác

Tin đọc nhiều