Thơm thảo - nghĩa tình người Việt
Em rót nước
Chị têm trầu
Mẹ ngồi bên nhổ tóc sâu cho bà...
Ngập ngừng cơn gió đi qua
Chừng như quyến luyến mái nhà thảo thơm.
Không chỉ vậy, trong khung cảnh ấy, ta thấy sự sẻ chia, gắn kết, yêu thương của các thành viên trong gia đình, làm chúng ta cảm động, bồi hồi…
Trong dòng chảy hối hả của cuộc sống hiện đại, đôi khi tôi chợt dừng lại, nghĩ về những từ ngữ giản dị mà sâu sắc của dân tộc mình. “Lấy thảo”, “thơm thảo” hay những cách diễn đạt tương tự như những cánh hoa đồng nội, thoang thoảng hương đất trời, gợi lên cách nói, cách ứng xử sẻ chia tinh tế của người Việt. Chúng không chỉ là lời nói suông, mà là cả một triết lý sống, một nghệ thuật giao tiếp thấm đẫm tình người.
![]() |
| Người dân phường Trảng Dài, tỉnh Đồng Nai gửi nhu yếu phẩm hỗ trợ đồng bào miền Trung bị ảnh hưởng bởi mưa lũ trong tháng 11-2025. Ảnh minh họa: Lê Duy |
Hãy tưởng tượng một buổi chiều quê, bên chái bếp bắt đầu tỏa khói, bà cụ hàng xóm mang sang nhà một nắm rau thơm từ vườn sau. Bà cười hiền: “Con ơi, rau nhà bà mới hái, mang sang cho con dùng lấy thảo!”. “Lấy thảo” - chỉ 2 từ ấy thôi mà chứa đựng bao ý nhị. Không phải là biếu tặng lớn lao, không phải khoe khoang, mà là lấy một chút để thể hiện tấm lòng. Đó là cách sẻ chia khiêm tốn, tránh làm người nhận áy náy.
Trong văn hóa Việt, “lấy thảo” thường dùng khi mời mọc thức ăn, đồ dùng nhỏ bé, như một miếng bánh, quả chuối hay bó rau. Nó ngầm bảo: Đừng nghĩ nhiều, chỉ là chút tình làng nghĩa xóm... Tôi nhớ hồi nhỏ, mẹ hay nhờ tôi mang chục trứng vịt hay mớ tôm cá mà cha vừa đóng đáy được biếu bà con và dặn tôi nói: “Mời cậu/dì dùng lấy thảo”. Các thức ấy của nhà làm ra được, không đắt đỏ nhưng ấm áp tình thân, khiến người ta cảm nhận được sự tinh tế trong ứng xử.
Còn “thơm thảo” thì như hương lúa chín lan tỏa, chỉ sự tử tế, tốt bụng từ đáy lòng. Một người “thơm thảo” là người hay san sẻ, giúp đỡ mà không mong đền đáp. Trong các mối quan hệ hằng ngày, từ ngữ này thể hiện qua những hành động nhỏ nhặt. Như cô em đồng nghiệp, thấy tôi có vẻ uể oải, buồn ngủ, lặng lẽ đặt cho một ly cà phê: “Anh uống đi, lấy thảo cho tỉnh táo”. Hay có ông bạn rất chu đáo, cứ mỗi lần đi công tác xa về đều mua chút quà, khi thì gói trà sen, lúc xấp bánh đậu xanh hay hộp bánh pía và vui vẻ nói: “Chút quà thơm thảo gửi các cháu giúp anh!”. “Thơm thảo” không chỉ là thơm về mùi hương của quà bánh mà tôi nhớ còn là thơm về đạo đức, về nhân cách, về tình người. Nó gợi nhớ đến những giá trị cổ xưa, khi làng xã Việt Nam sống dựa vào nhau, sẻ chia từ hạt gạo đến lời khuyên bảo.
Tôi thường suy ngẫm, tại sao người Việt lại dùng “lấy thảo” thay vì “lấy nhiều” hay “ăn no”? Phải chăng đó là sự tinh tế trong văn hóa Á Đông, nơi khiêm nhường là đức tính hàng đầu. Trong bữa cơm gia đình, cha mẹ hay bảo con: “Con lấy thảo miếng thịt cho em đi”. Đó không chỉ dạy cách chia sẻ mà còn dạy cách ứng xử sao cho khéo léo, không làm ai cảm thấy bị ép buộc hay thiếu thốn. Trong xã hội hiện nay, khi đô thị hóa làm con người xa cách, những từ ngữ này như lời nhắc nhở. Giữa Sài Gòn nhộn nhịp, có lần tôi thấy chị bán hàng rong chia cho đứa trẻ bán vé số mấy quả chuối chín: “Con cầm lấy thảo, ăn cho no bụng”. Hành động ấy, lời nói ấy, làm ấm lòng giữa bộn bề cuộc sống.
“Lấy thảo” hay “thơm thảo” là 2 từ giản dị, nhưng chứa đựng cả một nền văn hóa, thể hiện sự sẻ chia mà không phô trương, ứng xử mà đầy tinh tế. Trong thế giới bon chen, hãy giữ gìn chúng, như giữ gìn hương đồng gió nội. Bởi cuối cùng, tình người mới là thứ quý giá nhất.
“Thảo” thường được hiểu là “cỏ”. Trong văn chương trung đại, điển “tấc cỏ” được dùng để chỉ lòng hiếu, như Truyện Kiều có câu Hạt mưa sá nghĩ phận hèn/ Liều đem tấc cỏ quyết đền ba xuân. Điển này được cho là xuất phát từ 2 câu cuối trong bài Du tử ngâm của Mạnh Giao (751-814), nhà thơ đời Đường: Thùy ngôn thốn thảo tâm/ Báo đắc tam xuân huy (Ai bảo tấc lòng của cỏ/ Báo đáp được [ơn tưới tắm của] ánh mặt trời 3 tháng xuân; ý muốn nói tấm lòng đơn sơ của con cái làm sao đền đáp được công ơn lớn lao của đấng sinh thành).
Tiếng Hán còn có thành ngữ phương thảo chi tâm (tấm lòng cỏ thơm). Vào tiếng Việt, thảo thường không được dịch thành “cỏ”, cho nên câu trên được chuyển dịch thành thảo thơm hoặc thơm thảo. Đôi khi yếu tố “thơm” cũng bị lược luôn, chỉ còn duy một thảo, với nghĩa là hiếu cho nên mới có tổ hợp hiếu thảo, về sau được mở rộng nghĩa để chỉ tính chất “biết ăn ở phải đạo, quan tâm, chăm sóc cha mẹ và nói chung người bề trên trong gia đình” (như dâu hiền, rể thảo), rồi rộng hơn “có lòng tốt, hay nhường nhịn, chia sẻ cho người khác” (thảo ăn, thảo lảo).
Tôi nhớ các câu chuyện, từ bao đời, bà con ta đã sẻ chia từng nắm cơm, từng nắm muối, từng lá thuốc: “Lấy thảo mà sống qua ngày”. Đó là tinh thần dân tộc, nơi sẻ chia trở thành sức mạnh. Ngày nay, dù công nghệ nối liền khoảng cách nhưng những cuộc gọi video Tết, gửi quà online, vẫn cần chút “thơm thảo” để không mất đi hồn cốt.
Tuy nhiên, trong guồng quay hiện đại, đôi khi chúng ta quên mất sự tinh tế ấy. Người trẻ bận rộn với smartphone, ít dùng “lấy thảo” khi mời bạn bè. Thay vào đó là những lời mời sỗ sàng, thiếu ý nhị hoặc sự “có qua có lại” quá sòng phẳng. Tôi tự hỏi, phải chăng chúng ta đang đánh mất phần đẹp đẽ của ngôn ngữ hay đời sống không còn thảo, thơm nữa? Nhưng rồi, qua những câu chuyện đời thường, tôi thấy “thơm thảo” vẫn sống. Như nhóm bạn trẻ tình nguyện mang quà Tết đến vùng sâu: “Chút quà lấy thảo, mong các cụ vui” hoặc gửi bao lì xì đỏ thắm cho người còn nhọc nhằn ngoài đường đêm cuối năm lạnh giá... Họ đang kế thừa và lan tỏa cách ứng xử ấy, để mọi người đều thấy cuộc đời vẫn thật đẹp, thật tươi.
Nguyễn Minh Hải




