Tạo động lực phát triển kinh tế biển gắn với bảo vệ môi trường, chủ quyền quốc gia

Sáng 24/10, Quốc hội thảo luận tại tổ về dự án Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (sửa đổi); dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bảo vệ môi trường và dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đầu tư.
Phiên thảo luận tại Tổ 7 có sự tham gia của các đại biểu thuộc Đoàn ĐBQH tỉnh Lâm Đồng và thành phố Bắc Ninh. Đồng chí Nguyễn Văn Quảng, Bí thư Trung ương Đảng, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, ĐBQH tỉnh Lâm Đồng tham dự phiên thảo luận tổ. Đồng chí Y Thanh Hà Niê Kđăm, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy, Trưởng Đoàn ĐBQH tỉnh Lâm Đồng điều hành phiên thảo luận.

Tăng cường hậu kiểm, xác định rõ trách nhiệm và chế tài
Phát biểu về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bảo vệ môi trường, đại biểu Nguyễn Văn Quảng, Bí thư Trung ương Đảng, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, đại biểu Quốc hội tỉnh Lâm Đồng, nhấn mạnh 3 vấn đề cần được quan tâm: chất lượng quan trắc môi trường, cơ chế xử lý sự cố và trách nhiệm của các chủ thể trong bảo vệ môi trường.

Theo đại biểu, khi chuyển từ tiền kiểm sang hậu kiểm, kết quả quan trắc phải là căn cứ quan trọng để đánh giá chất lượng môi trường và xác định việc chấp hành pháp luật. Tuy nhiên, hệ thống trạm quan trắc chưa đồng bộ, dữ liệu chưa được kết nối đầy đủ; một số vụ việc còn cho thấy nguy cơ can thiệp vào thiết bị hoặc kết quả quan trắc nhằm phục vụ lợi ích của chủ đầu tư.
Đại biểu đề nghị quy định chặt chẽ hơn về tiêu chuẩn, điều kiện thực hiện quan trắc và yêu cầu đối với trang thiết bị, bảo đảm dữ liệu khách quan, trung thực, phản ánh đúng thực trạng môi trường. Nếu dữ liệu đầu vào thiếu tin cậy, cơ chế hậu kiểm sẽ khó phát huy hiệu quả, thậm chí dẫn đến đánh giá sai mức độ ô nhiễm và xử lý không đúng đối tượng.

Đối với sự cố môi trường, đại biểu cho rằng phạm vi ảnh hưởng thường vượt ra ngoài địa giới hành chính của một xã hoặc một tỉnh, đặc biệt với sự cố ô nhiễm nguồn nước. Vì vậy, không thể chỉ giao trách nhiệm xử lý cho cấp xã trong khi nguồn nhân lực và chuyên môn còn hạn chế.
Đại biểu đề nghị quy định cấp tỉnh là cấp chủ trì xử lý sự cố môi trường, đồng thời thiết lập cơ chế phối hợp liên tỉnh, liên vùng đối với các sự cố có phạm vi ảnh hưởng rộng. Cùng với đó, cần phân định rõ trách nhiệm của chủ thể phát sinh nguồn thải và cơ quan, đơn vị được giao phối hợp xử lý.
Một nội dung được đại biểu đặc biệt nhấn mạnh là trách nhiệm của tổ chức, cá nhân phát sinh chất thải. Thực tế tại một số cơ sở kinh doanh cho thấy, dù Nhà nước đã đầu tư hệ thống thu gom, xử lý nước thải và pháp luật quy định nghĩa vụ đấu nối, vẫn có trường hợp không thực hiện đầy đủ, tiếp tục xả vào hệ thống thoát nước chung. Theo đại biểu, vấn đề không chỉ nằm ở việc ban hành quy định mà còn ở cơ chế kiểm tra, giám sát và chế tài đối với hành vi vi phạm.
“Bảo vệ môi trường phải bắt đầu từ việc kiểm soát nguồn phát sinh chất thải, chứ không chỉ tập trung xử lý khi chất thải đã xả ra môi trường.”
Đại biểu Nguyễn Văn Quảng, Bí thư Trung ương Đảng, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, ĐBQH tỉnh Lâm Đồng nhấn mạnh
Từ quan điểm đó, đại biểu đề nghị bổ sung quy định làm rõ trách nhiệm thu gom, xử lý và kiểm soát nguồn thải ngay từ đầu nguồn; tăng cường kiểm tra việc thực hiện nghĩa vụ môi trường; xử lý nghiêm các trường hợp không đấu nối hệ thống thu gom hoặc không thực hiện đầy đủ quy trình xử lý chất thải. Đồng thời, cần xác định trách nhiệm của cơ quan quản lý và người đứng đầu khi buông lỏng quản lý, chậm xử lý vi phạm hoặc không kịp thời giải quyết phản ánh chính đáng của người dân.
Làm rõ cơ chế quản lý biển, kiểm soát ưu đãi và bảo đảm lợi ích quốc gia

Góp ý dự án Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (sửa đổi), đại biểu Dương Khắc Mai, Phó trưởng Đoàn chuyên trách Đoàn ĐBQH tỉnh Lâm Đồng, cơ bản tán thành sự cần thiết sửa đổi toàn diện Luật. Với địa phương có 192 km bờ biển và Đặc khu Phú Quý, đại biểu cho rằng việc hoàn thiện khuôn khổ pháp lý về quản lý biển có ý nghĩa quan trọng đối với phát triển kinh tế biển, bảo vệ môi trường và bảo đảm quốc phòng, an ninh.
Từ nghiên cứu dự thảo, đại biểu đề nghị làm rõ ranh giới giữa quản lý tổng hợp tài nguyên, môi trường biển với quản lý theo các luật chuyên ngành. Theo đó, Luật cần xác định rõ nguyên tắc điều phối đối với những hoạt động sử dụng đồng thời nhiều lớp không gian biển hoặc liên quan đến nhiều ngành; việc giải quyết xung đột được thực hiện theo cơ chế quản lý tổng hợp, trong khi các điều kiện chuyên ngành vẫn phải tuân thủ pháp luật tương ứng.
Nếu không xác định rõ quy tắc áp dụng, một dự án có thể phải trải qua nhiều quy trình trùng lặp hoặc phát sinh khoảng trống trách nhiệm giữa các cơ quan. Vì vậy, Luật cần phát huy vai trò điều phối liên ngành, tránh tạo thêm thủ tục không cần thiết nhưng cũng không mặc nhiên thay thế các giấy phép chuyên ngành.
Đại biểu Dương Khắc Mai, Phó trưởng Đoàn chuyên trách Đoàn ĐBQH tỉnh Lâm Đồng
Đối với cơ chế phối hợp giữa các cơ quan, đại biểu Dương Khắc Mai đề nghị phân định rõ cơ quan chủ trì, cơ quan phối hợp, thẩm quyền quyết định và trách nhiệm giải trình theo nguyên tắc “một việc có một đầu mối chịu trách nhiệm chính”.
Cùng với đó, cần quy định thời hạn lấy ý kiến, xử lý bất đồng và công khai tiến độ giải quyết hồ sơ liên ngành; thiết lập đầu mối điện tử liên thông để hạn chế tình trạng doanh nghiệp phải xin ý kiến nhiều lần.
Theo đại biểu, yêu cầu này đặc biệt quan trọng đối với các dự án điện gió ngoài khơi, cảng biển và dự án liên tỉnh, vốn đòi hỏi phối hợp nhiều cơ quan nhưng vẫn phải đáp ứng đầy đủ yêu cầu về môi trường, quốc phòng và an ninh.
Với hoạt động nghiên cứu khoa học của tổ chức, cá nhân nước ngoài, đại biểu đề nghị làm rõ quy trình thẩm định, trách nhiệm quản lý và cung cấp dữ liệu, nhất là dữ liệu nhạy cảm liên quan đến đáy biển, địa hình và hạ tầng. Việc kiểm soát an ninh phải đi đôi với quy trình minh bạch, tránh yêu cầu giấy tờ trùng lặp, ảnh hưởng đến hoạt động hợp tác khoa học hợp pháp.

Đối với việc xây dựng đảo nhân tạo, công trình trên biển, đại biểu đề nghị bổ sung yêu cầu đánh giá tác động đến dòng chảy, bồi lắng, xói lở, an toàn hàng hải, hệ sinh thái và quốc phòng, an ninh. Đặc biệt, trách nhiệm tháo dỡ công trình, phục hồi môi trường và bảo đảm tài chính khi kết thúc hoạt động cần được quy định rõ, tránh để chi phí khắc phục hậu quả chuyển sang Nhà nước và cộng đồng.
Đại biểu cũng đề nghị làm rõ tiêu chí xác định hoạt động sử dụng khu vực biển mang tính “ổn định lâu dài”, nhằm bảo đảm áp dụng thống nhất giữa các hình thức giao, cho thuê và đăng ký sử dụng biển. Đối với chính sách ưu đãi, cần tập trung vào nuôi biển công nghệ cao, năng lượng sạch, hạ tầng biển lưỡng dụng, phục hồi sinh thái và cộng đồng ven biển; đồng thời quy định cụ thể điều kiện hưởng ưu đãi, thời hạn áp dụng và cơ chế hậu kiểm. Cơ chế thử nghiệm có kiểm soát phải xác định rõ phạm vi, thời gian, trách nhiệm và phương án chấm dứt thử nghiệm.
Bên cạnh đó, đại biểu đề nghị hoàn thiện quy định chuyển tiếp đối với hồ sơ giao, cho thuê khu vực biển đã tiếp nhận, các giấy phép và quyết định đã cấp, cũng như quyền, nghĩa vụ đang được thực hiện. Những địa phương chưa hoàn thiện dữ liệu về ranh giới quản lý hành chính trên biển hoặc đường mép nước biển cần có cơ chế phù hợp để hoạt động hợp pháp của tổ chức, cá nhân không bị đình trệ.
Bảo vệ môi trường phải bắt đầu từ nguồn thải, dựa trên dữ liệu tin cậy

Góp ý dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bảo vệ môi trường, các ĐBQH tỉnh Lâm Đồng cũng tập trung vào yêu cầu bảo đảm an toàn thực phẩm, hoàn thiện tiêu chí đánh giá tác động môi trường, tăng cường quan trắc và nâng cao trách nhiệm của các chủ thể phát sinh chất thải.
Đại biểu Lê Nguyên Thao, Đoàn ĐBQH tỉnh Lâm Đồng đề nghị hài hòa yêu cầu bảo vệ môi trường với an toàn thực phẩm trong quản lý, sử dụng bao bì. Theo đại biểu, bao bì vừa có vai trò bảo quản chất lượng thực phẩm, vừa là nguồn phát sinh chất thải sau tiêu dùng. Do đó, chính sách không thể chỉ ưu tiên mục tiêu tái chế mà bỏ qua các nguy cơ đối với sức khỏe con người.

Đối với vật liệu tái chế dùng để sản xuất bao bì tiếp xúc trực tiếp với thực phẩm, cần kiểm soát chặt chẽ tạp chất, nguy cơ thôi nhiễm và quy định rõ tiêu chuẩn an toàn, phương pháp đánh giá cũng như cơ chế giám sát. Bao bì nhiều lớp, bao bì phân hủy sinh học và bao bì tái sử dụng cũng cần được xem xét trên cơ sở đặc tính vật liệu, khả năng tái chế, điều kiện xử lý và yêu cầu vệ sinh.
“An toàn thực phẩm và sức khỏe người tiêu dùng là yêu cầu bắt buộc, không thể đánh đổi”.
Đại biểu Lê Nguyên Thao, Đoàn ĐBQH tỉnh Lâm Đồng nhấn mạnh
Trên cơ sở đó, đại biểu đề nghị phân loại bao bì theo chức năng và mức độ tiếp xúc với thực phẩm; ưu tiên yêu cầu an toàn đối với bao bì cấp 1, đồng thời tăng cường sử dụng vật liệu tái chế phù hợp đối với bao bì bên ngoài và bao bì vận chuyển.
Cùng với việc thực hiện trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất, nhập khẩu (EPR), cần khuyến khích thiết kế bao bì xanh ngay từ đầu, sử dụng vật liệu đơn, giảm lớp ghép khi vẫn bảo đảm yêu cầu bảo quản. Đại biểu cũng đề nghị có lộ trình chuyển đổi phù hợp với năng lực doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp vừa và nhỏ, tránh tạo gánh nặng không cần thiết.

Từ thực tiễn quản lý tại địa phương, đại biểu Cil Bri, Đoàn ĐBQH tỉnh Lâm Đồng lưu ý việc phân cấp, phân quyền trong lĩnh vực môi trường phải đi đôi với nguồn lực và trách nhiệm giải trình. Đối với các địa bàn miền núi, dân cư phân tán, giao thông khó khăn, việc giao thêm nhiệm vụ cho chính quyền cơ sở cần kèm theo nhân lực chuyên môn, kinh phí, dữ liệu và hướng dẫn thống nhất.
Đại biểu cho rằng chính sách phân loại rác tại nguồn sẽ khó đạt hiệu quả nếu chưa có hệ thống thu gom riêng, phương tiện vận chuyển và địa điểm xử lý phù hợp. Vì vậy, cần có lộ trình theo điều kiện từng địa bàn, ưu tiên ngân sách và hỗ trợ kỹ thuật cho vùng khó khăn, tránh áp dụng đồng loạt khi hạ tầng chưa đáp ứng.
Đại biểu cũng đề nghị tăng cường bảo vệ nguồn nước, môi trường đất và hệ sinh thái gắn với sinh kế người dân; công khai thông tin chất lượng môi trường, thiết lập cơ chế cảnh báo sớm và xác định rõ trách nhiệm khắc phục theo nguyên tắc người gây ô nhiễm phải chi trả. Khi chưa xác định được chủ thể gây ô nhiễm hoặc ô nhiễm tồn lưu kéo dài, cần làm rõ trách nhiệm và nguồn kinh phí xử lý, không để cộng đồng phải tự gánh chịu hậu quả.

Đặc biệt, chính sách môi trường cần tính đến tác động khác nhau đối với phụ nữ, trẻ em, hộ nghèo và đồng bào dân tộc thiểu số. Người dân phải được tiếp cận thông tin dễ hiểu, có điều kiện tham gia giám sát và có kênh phản ánh được giải quyết đúng thời hạn. Đại biểu đề nghị chuyển mạnh từ xử lý hậu quả sang phòng ngừa, kiểm tra thực chất, đồng thời bảo đảm công nghệ số phục vụ phát hiện, cảnh báo và xử lý vi phạm kịp thời.
Các ý kiến tại phiên thảo luận cho thấy yêu cầu chung đối với việc sửa đổi, hoàn thiện các dự án luật không chỉ là đơn giản hóa thủ tục mà còn phải nâng cao chất lượng quản lý nhà nước, bảo đảm trách nhiệm được xác định rõ và nguồn lực thực thi tương xứng. Từ quản lý không gian biển, thu hút đầu tư đến kiểm soát nguồn thải, các quy định cần đủ cụ thể để áp dụng thống nhất, đồng thời có cơ chế giám sát và xử lý vi phạm hiệu quả.
Việc tiếp thu đầy đủ các ý kiến, hoàn thiện dự thảo theo hướng minh bạch, khả thi và lấy lợi ích cộng đồng làm trọng tâm sẽ góp phần tạo động lực phát triển kinh tế, bảo vệ tài nguyên, môi trường, sức khỏe nhân dân, đồng thời giữ vững chủ quyền và lợi ích quốc gia trong quá trình phát triển bền vững.


