Chuyển biến trong thực hiện Nghị quyết số 16-NQ/TW về giáo dục tại Lào Cai
CTTĐT - Thực hiện Nghị quyết số 16-NQ/TW ngày 10/10/2017 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế - xã hội các xã biên giới đất liền gắn với tăng cường, củng cố quốc phòng, an ninh, đối ngoại, tỉnh Lào Cai đã tập trung nguồn lực phát triển giáo dục tại các địa bàn biên giới. Việc sắp xếp mạng lưới trường, lớp, đầu tư cơ sở vật chất, nâng cao chất lượng đội ngũ và thực hiện chính sách hỗ trợ học sinh đã góp phần cải thiện điều kiện học tập, duy trì sĩ số, nâng cao chất lượng giáo dục, từng bước thu hẹp khoảng cách giữa vùng biên giới với các khu vực thuận lợi.
Xác định giáo dục là một trong những nhiệm vụ quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội vùng biên giới, tỉnh Lào Cai đã cụ thể hóa các mục tiêu của Nghị quyết bằng những đề án phát triển giáo dục và đào tạo, xây dựng trường đạt chuẩn quốc gia, phổ cập giáo dục và sắp xếp mạng lưới trường, lớp. Các nhiệm vụ được triển khai gắn với điều kiện thực tế của từng địa bàn, bảo đảm sử dụng nguồn lực hiệu quả, đồng thời tạo điều kiện để học sinh, nhất là học sinh dân tộc thiểu số, được tiếp cận giáo dục thuận lợi hơn.
Trên địa bàn 9 xã, phường biên giới tiếp giáp Trung Quốc hiện có 60 cơ sở giáo dục, gồm 16 trường mầm non, 11 trường tiểu học, 11 trường tiểu học và trung học cơ sở, 8 trường trung học cơ sở, 4 trường trung học cơ sở và trung học phổ thông, 7 trường trung học phổ thông và 3 trung tâm giáo dục nghề nghiệp - giáo dục thường xuyên. Mạng lưới này đáp ứng nhu cầu học tập ở nhiều cấp học, tạo điều kiện duy trì việc học tập liên tục của học sinh ngay tại địa bàn cư trú.
Cùng với việc sắp xếp mạng lưới, tỉnh chú trọng đầu tư cơ sở vật chất, từng bước khắc phục tình trạng phòng học tạm, phòng học bán kiên cố. Toàn tỉnh hiện có 15.940 phòng học, tỷ lệ kiên cố hóa đạt 87%. So với năm 2017, khi phòng học tạm và bán kiên cố còn chiếm khoảng 36%, điều kiện dạy và học đã có chuyển biến rõ rệt. Trường lớp kiên cố giúp giáo viên chủ động tổ chức các hoạt động giáo dục, hạn chế ảnh hưởng của thời tiết và nâng cao mức độ an toàn cho học sinh.
Việc đầu tư nhà bán trú, nhà ăn và các công trình phục vụ sinh hoạt cũng có ý nghĩa thiết thực đối với học sinh ở xa trường, nhất là tại những địa bàn có địa hình chia cắt, giao thông khó khăn. Khi điều kiện ăn ở được cải thiện, học sinh có thêm cơ hội duy trì việc học thường xuyên, giảm nguy cơ nghỉ học do hoàn cảnh gia đình hoặc quãng đường đến trường quá xa.
Một nhiệm vụ trọng tâm hiện nay là xây dựng trường phổ thông nội trú liên cấp tại các xã biên giới. Tỉnh đang triển khai đầu tư 8 trường tại các xã Y Tý, A Mú Sung, Trịnh Tường, Bát Xát, Pha Long, Mường Khương, Bản Lầu và Si Ma Cai; dự án tại khu vực Bản Phiệt thuộc phường Lào Cai đang chờ phê duyệt theo kế hoạch. Trong tháng 9/2026, 04 trường tại A Mú Sung, Y Tý, Mường Khương và Pha Long đã khánh thành, đưa vào hoạt động đầu năm học mới.

Trong tháng 9/2026, 04 trường tại A Mú Sung, Y Tý, Mường Khương và Pha Long đã khánh thành, đưa vào hoạt động đầu năm học mới
Các trường nội trú liên cấp mở rộng cơ hội học tập cho học sinh vùng biên, nhất là con em đồng bào dân tộc thiểu số ở những thôn, bản xa trung tâm. Mô hình này còn tạo điều kiện tổ chức đồng bộ hoạt động dạy học, chăm sóc, quản lý học sinh và giáo dục kỹ năng sống. Khi được đầu tư đầy đủ, trường nội trú có thể trở thành hạt nhân nâng cao chất lượng giáo dục tại địa bàn, góp phần tạo nguồn nhân lực phục vụ phát triển kinh tế - xã hội và củng cố quốc phòng, an ninh khu vực biên giới.
Cùng với đầu tư cơ sở vật chất, ngành giáo dục Lào Cai quan tâm bố trí, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên và nhân viên. Toàn tỉnh hiện có 30.677 cán bộ, giáo viên, nhân viên, phục vụ gần 478.000 học sinh các cấp học. Tại các trường nội trú liên cấp vùng biên mới thành lập, đội ngũ được bố trí bình quân khoảng 65 người mỗi trường để đáp ứng yêu cầu giảng dạy, quản lý và chăm sóc học sinh. Triển khai các chính sách hỗ trợ theo quy định, đồng thời chú trọng bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ, nâng cao trình độ giáo viên và tăng cường năng lực thực hiện chương trình giáo dục phổ thông mới.

Chú trọng bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ, nâng cao trình độ giáo viên và tăng cường năng lực thực hiện chương trình giáo dục phổ thông mới
Chất lượng giáo dục tại các địa bàn biên giới từng bước được cải thiện. Tỷ lệ học sinh đi học chuyên cần tăng từ khoảng 85% năm 2017 lên mức 96-98%. Mức tăng này phản ánh những chuyển biến trong công tác huy động học sinh ra lớp, phối hợp giữa nhà trường với gia đình và chăm lo điều kiện học tập, sinh hoạt của học sinh.
Tỷ lệ tốt nghiệp trung học cơ sở toàn tỉnh đạt 99,49%, tỷ lệ tốt nghiệp trung học phổ thông đạt 98,77%. Tỷ lệ trường học đạt chuẩn quốc gia đạt 65,21%. Những chỉ số này cho thấy hệ thống giáo dục đã duy trì được nền tảng phổ cập, đồng thời từng bước nâng cao chất lượng giáo dục ở các cấp học. Tuy nhiên, để đánh giá đầy đủ hiệu quả thực hiện Nghị quyết tại riêng các xã biên giới, ngành giáo dục cần tiếp tục theo dõi kết quả theo từng địa bàn, cấp học và nhóm học sinh, qua đó xác định rõ những nơi còn khoảng cách về chất lượng.
Giáo dục mũi nhọn tiếp tục là điểm sáng của ngành giáo dục tỉnh. Trong giai đoạn 2020-2025, học sinh Lào Cai đạt 457 giải học sinh giỏi quốc gia, tăng 138 giải so với giai đoạn trước. Riêng năm học 2024-2025, học sinh đạt 128 giải quốc gia cùng thành tích tại kỳ thi Olympic Tin học châu Á. Thành tích này góp phần khẳng định chất lượng giáo dục của tỉnh, đồng thời tạo động lực để các trường tiếp tục phát hiện, bồi dưỡng học sinh có năng lực. Song song với giáo dục mũi nhọn, việc bảo đảm chất lượng giáo dục đại trà tại vùng biên vẫn phải được đặt ở vị trí trọng tâm để mọi học sinh đều có cơ hội phát triển.

Toàn tỉnh có 99/99 xã, phường đạt chuẩn phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi, phổ cập giáo dục tiểu học mức độ 3 và xóa mù chữ mức độ 2
Các chính sách hỗ trợ học sinh tiếp tục giữ vai trò quan trọng trong việc duy trì sĩ số và hạn chế nguy cơ bỏ học. Nhà trường thực hiện các chế độ hỗ trợ tiền ăn bán trú, chi phí học tập và học phẩm theo quy định; đồng thời phối hợp với chính quyền cơ sở, gia đình để nắm bắt hoàn cảnh của học sinh, kịp thời hỗ trợ những trường hợp khó khăn.
Theo số liệu trong báo cáo của ngành giáo dục, tỉnh đã bố trí gần 48 tỷ đồng mua sắm đồ dùng cá nhân, học phẩm cho học sinh tại 4 xã biên giới khó khăn trước năm học 2026-2027. Việc chuẩn bị điều kiện học tập từ đầu năm học giúp học sinh giảm bớt chi phí, gia đình yên tâm hơn khi cho con đến trường. Đối với địa bàn có tỷ lệ hộ nghèo còn cao, sự hỗ trợ đúng đối tượng, đúng thời điểm có ý nghĩa trực tiếp đối với khả năng duy trì việc học của trẻ em.
Công tác phổ cập giáo dục và xóa mù chữ tiếp tục được duy trì. Toàn tỉnh có 99/99 xã, phường đạt chuẩn phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi, phổ cập giáo dục tiểu học mức độ 3 và xóa mù chữ mức độ 2. Tất cả xã, phường đạt chuẩn phổ cập giáo dục trung học cơ sở từ mức độ 2 trở lên, trong đó 47 xã, phường đạt mức độ 3. Đây là nền tảng quan trọng để nâng cao dân trí, mở rộng cơ hội học tập và tạo điều kiện cho người dân tiếp cận tốt hơn với các chương trình đào tạo nghề, phát triển sinh kế.
Tại các địa bàn có đông đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống, ngành giáo dục chú trọng kết hợp dạy học với giáo dục truyền thống, lịch sử, văn hóa và bản sắc dân tộc. Các trường phổ thông dân tộc nội trú, phổ thông dân tộc bán trú lồng ghép nội dung văn hóa địa phương vào hoạt động giáo dục, giúp học sinh hiểu hơn về cộng đồng, quê hương và trách nhiệm gìn giữ những giá trị truyền thống.
Mô hình trường nội trú liên cấp tại xã biên giới tạo điều kiện để học sinh dân tộc Mông, Dao, Hà Nhì, Nùng và các dân tộc khác tiếp cận môi trường học tập có điều kiện chăm sóc, quản lý tập trung. Đây cũng là cơ sở để nâng cao chất lượng đào tạo, hướng nghiệp, phân luồng học sinh sau trung học cơ sở, gắn việc học với nhu cầu lao động của địa phương. Theo số liệu trong báo cáo, tỷ lệ lao động qua đào tạo của tỉnh đạt 70,75%; mục tiêu đến năm 2030 là nâng tỷ lệ này lên 75%, trong đó lao động có bằng cấp, chứng chỉ đạt 36%.
Giáo dục tại vùng biên còn gắn trực tiếp với nhiệm vụ củng cố quốc phòng, an ninh và nâng cao nhận thức về chủ quyền lãnh thổ. Các trường phối hợp với lực lượng biên phòng tổ chức mô hình “Tiết học biên cương”, giúp học sinh tìm hiểu đường biên, cột mốc, truyền thống bảo vệ biên giới và trách nhiệm của công dân. 100% trường trung học phổ thông và trung tâm giáo dục nghề nghiệp - giáo dục thường xuyên trên địa bàn các xã biên giới thực hiện nội dung giáo dục quốc phòng và an ninh theo quy định.
Thông qua các hoạt động học tập thực tế, học sinh có thêm hiểu biết về vị trí, vai trò của khu vực biên giới, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật và trách nhiệm bảo vệ chủ quyền quốc gia. Nhà trường không chỉ thực hiện nhiệm vụ truyền đạt kiến thức mà còn góp phần hình thành thế hệ công dân có tri thức, ý thức cộng đồng và tinh thần gắn bó với quê hương.
Bên cạnh những chuyển biến tích cực, giáo dục vùng biên giới Lào Cai vẫn đối mặt với nhiều khó khăn. Địa hình chia cắt, giao thông không thuận lợi và thiên tai, lũ quét diễn biến phức tạp có thể làm gián đoạn việc đến trường, ảnh hưởng đến an toàn trường học và chất lượng dạy học. Một số dự án trường học còn chậm tiến độ; thiết bị dạy học, phòng chức năng và hạ tầng công nghệ thông tin ở một số cơ sở chưa đáp ứng yêu cầu. Tình trạng thiếu giáo viên ở các môn học đặc thù cũng gây khó khăn cho việc triển khai đầy đủ chương trình giáo dục phổ thông.

Tiếp tục ưu tiên nguồn lực cho các xã biên giới, gắn đầu tư giáo dục với quy hoạch mạng lưới trường lớp, điều kiện dân cư và yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội từng địa bàn
Trong thời gian tới, tỉnh Lào Cai tiếp tục ưu tiên nguồn lực cho các xã biên giới, gắn đầu tư giáo dục với quy hoạch mạng lưới trường lớp, điều kiện dân cư và yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội từng địa bàn. Các cơ quan, đơn vị liên quan tập trung đẩy nhanh tiến độ xây dựng trường phổ thông nội trú liên cấp giai đoạn tiếp theo, tăng cường kiểm tra chất lượng công trình, tháo gỡ vướng mắc về mặt bằng, vật liệu và tổ chức thi công. Các dự án giai đoạn 2 phấn đấu hoàn thành, bàn giao trước ngày 30/8/2027, bảo đảm điều kiện đưa vào sử dụng đúng tiến độ.
Tiếp tục rà soát, bố trí đội ngũ giáo viên phù hợp với quy mô trường lớp; ưu tiên giải quyết tình trạng thiếu giáo viên tại địa bàn khó khăn, nhất là các môn học chưa đủ nhân lực. Công tác đào tạo, bồi dưỡng cần gắn với nhu cầu thực tế của từng trường, tăng cường năng lực ứng dụng công nghệ thông tin, đổi mới phương pháp dạy học và hỗ trợ học sinh dân tộc thiểu số. Các chính sách đối với giáo viên công tác ở vùng khó khăn phải được thực hiện đầy đủ, kịp thời, góp phần ổn định đội ngũ và nâng cao chất lượng giáo dục.
Chuyển đổi số tiếp tục là nhiệm vụ quan trọng nhằm mở rộng cơ hội tiếp cận tri thức cho học sinh vùng biên. Ngành giáo dục đẩy mạnh triển khai học bạ số, số hóa hồ sơ, sử dụng chữ ký số và ứng dụng công nghệ, trong đó có trí tuệ nhân tạo, phù hợp với điều kiện hạ tầng và yêu cầu bảo đảm an toàn thông tin. Việc ứng dụng công nghệ cần đi đôi với đầu tư đường truyền, thiết bị và bồi dưỡng kỹ năng số cho giáo viên, tránh tạo thêm khoảng cách giữa các trường có điều kiện khác nhau.
Đến năm 2030, tỉnh đặt mục tiêu 100% xã, phường đạt chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học mức độ 3, phổ cập giáo dục trung học cơ sở mức độ 2 và xóa mù chữ mức độ 2; hoàn thành mục tiêu phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em từ 3 đến 5 tuổi. Phấn đấu có ít nhất 90% học sinh tốt nghiệp trung học cơ sở tiếp tục học trung học phổ thông hoặc giáo dục thường xuyên; ít nhất 85% người trong độ tuổi hoàn thành trung học phổ thông và tương đương; tỷ lệ người trong độ tuổi theo học các trình độ sau trung học phổ thông đạt 50%.
Cùng với đó, tỷ lệ trường mầm non, phổ thông đạt chuẩn quốc gia phấn đấu đạt 85%; tỷ lệ phòng học kiên cố hóa đạt 100%; tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 75%, trong đó lao động có bằng cấp, chứng chỉ đạt 36%. Nâng cấp các trường phổ thông nội trú tiểu học và trung học cơ sở tại xã biên giới thành trường nội trú liên cấp tiểu học, trung học cơ sở và trung học phổ thông, tạo điều kiện học tập liên tục cho học sinh trên địa bàn.
Để các mục tiêu trên đi vào thực chất, công tác quản lý cần gắn từng chỉ tiêu với lộ trình, nguồn lực và trách nhiệm của cơ quan, đơn vị thực hiện. Việc kiểm tra, đánh giá phải dựa trên số liệu cụ thể về chuyên cần, bỏ học, chất lượng học tập, điều kiện trường lớp, đội ngũ giáo viên và khả năng tiếp cận giáo dục của từng nhóm học sinh. Các chính sách hỗ trợ cần hướng đúng đối tượng, ưu tiên những địa bàn khó khăn nhất; đồng thời tăng cường phối hợp giữa nhà trường, gia đình, chính quyền cơ sở và lực lượng biên phòng trong vận động học sinh đến lớp, bảo đảm an toàn trường học và giáo dục ý thức bảo vệ biên giới.
Phát triển giáo dục vùng biên giới không chỉ nhằm nâng cao dân trí mà còn góp phần đào tạo nguồn nhân lực tại chỗ, cải thiện đời sống người dân và củng cố thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân. Việc tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 16-NQ/TW bằng những nhiệm vụ cụ thể, có trọng tâm và được kiểm tra thường xuyên sẽ tạo nền tảng để giáo dục Lào Cai phát triển đồng đều hơn, giúp trẻ em vùng biên có thêm cơ hội học tập, trưởng thành và dựng xây quê hương.


