Cổng thông tin điện tử Đảng Cộng Sản Việt Nam
Lào Cai
A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Nâng cao chất lượng rừng gắn với bảo tồn hệ sinh thái và phòng, chống thiên tai trên địa bàn tỉnh Lào Cai

CTTĐT - Rừng có vai trò quan trọng trong bảo tồn đa dạng sinh học, điều hòa nguồn nước, hạn chế xói mòn, sạt lở đất và giảm thiểu tác động của thiên tai. Với diện tích rừng lớn, địa hình chủ yếu là đồi núi, nhiều khu vực có nguy cơ cao xảy ra lũ quét, sạt lở đất, tỉnh Lào Cai xác định nâng cao chất lượng rừng không chỉ là nhiệm vụ bảo vệ tài nguyên thiên nhiên mà còn là giải pháp quan trọng để bảo đảm an toàn sinh thái và phát triển kinh tế bền vững.

Thực hiện Quyết định số 171/QĐ-TTg ngày 7/2/2024 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án nâng cao chất lượng rừng nhằm bảo tồn hệ sinh thái rừng và phòng, chống thiên tai đến năm 2030, tỉnh Lào Cai đã tập trung cụ thể hóa các mục tiêu, nhiệm vụ, xác định diện tích rừng cần nâng cao chất lượng và triển khai các giải pháp phù hợp với điều kiện thực tế.

anh tin bai

Ngay sau khi Đề án được phê duyệt, ngành Nông nghiệp và Môi trường đã tham mưu UBND tỉnh ban hành kế hoạch triển khai, đồng thời chỉ đạo các địa phương rà soát diện tích, vị trí, ranh giới và đối tượng rừng. Trên cơ sở đó, tỉnh xác định các khu vực ưu tiên, lựa chọn biện pháp kỹ thuật và xây dựng mô hình điểm nhằm nâng cao chất lượng rừng, bảo đảm phù hợp với đặc điểm từng loại rừng.

Theo kế hoạch, tổng diện tích rừng cần nâng cao chất lượng trên địa bàn tỉnh là 27.642,44 ha. Trong đó, rừng sản xuất chiếm diện tích lớn nhất với 16.238,59 ha; rừng phòng hộ 10.635,52 ha và rừng đặc dụng 768,33 ha. Cơ cấu này cho thấy nhiệm vụ nâng cao chất lượng rừng không chỉ tập trung vào những khu vực có giá trị bảo tồn cao mà còn gắn với việc cải thiện chất lượng rừng sản xuất, qua đó nâng cao giá trị kinh tế và hiệu quả sử dụng tài nguyên rừng.

Ba nhóm giải pháp kỹ thuật được xác định gồm khoanh nuôi xúc tiến tái sinh tự nhiên, khoanh nuôi xúc tiến tái sinh có trồng bổ sung và làm giàu rừng tự nhiên. Trong đó, khoanh nuôi tái sinh tự nhiên tạo điều kiện để rừng phục hồi theo quy luật sinh trưởng vốn có; trồng bổ sung giúp tăng mật độ cây gỗ, bổ sung các loài cây có giá trị sinh thái; làm giàu rừng góp phần cải thiện cấu trúc, thành phần loài và chất lượng rừng hiện có.

Việc lựa chọn giải pháp theo từng diện tích rừng có ý nghĩa quan trọng, bởi chất lượng rừng không chỉ được đánh giá qua diện tích che phủ mà còn phụ thuộc vào cấu trúc tầng tán, thành phần loài, khả năng tái sinh và chức năng sinh thái. Đối với rừng phòng hộ, việc phục hồi thảm thực vật, tăng độ che phủ và khả năng giữ nước góp phần hạn chế dòng chảy mặt, xói mòn và sạt lở. Với rừng đặc dụng, ưu tiên bảo tồn hệ sinh thái tự nhiên và đa dạng sinh học. Đối với rừng sản xuất, nâng cao chất lượng rừng gắn với phát triển lâm sản có giá trị, bảo đảm nguồn nguyên liệu ổn định và bền vững.

Cùng với rà soát diện tích cần phục hồi, tỉnh chú trọng nâng cao hiệu quả quản lý, bảo vệ và phát triển rừng trên quy mô toàn tỉnh. Hiện tổng diện tích rừng cần bảo vệ và phát triển bền vững đạt 865.059,85 ha. Trong đó, diện tích có rừng trong quy hoạch lâm nghiệp là 818.520,24 ha, gồm 92.616,89 ha rừng đặc dụng, 289.200,55 ha rừng phòng hộ và 436.702,8 ha rừng sản xuất; diện tích rừng ngoài đất lâm nghiệp là 46.539,57 ha.

Một trong những nhiệm vụ được ngành chức năng tập trung thực hiện là xây dựng và triển khai phương án quản lý rừng bền vững. Đến nay, toàn tỉnh có 15 chủ rừng là tổ chức được cấp có thẩm quyền phê duyệt phương án quản lý rừng bền vững. Các chủ rừng đang tiếp tục rà soát, cập nhật, điều chỉnh phương án phù hợp với quy định mới tại Thông tư số 16/2025/TT-BNNMT ngày 19/6/2025 của Bộ Nông nghiệp và Môi trường.

Đáng chú ý, diện tích rừng trồng được cấp chứng chỉ rừng và chứng nhận quế hữu cơ đạt 36.478,7 ha. Trong đó, diện tích quế hữu cơ đạt 24.241,5 ha tại 18 xã; diện tích được cấp chứng chỉ rừng đạt 12.237,2 ha tại 11 xã, phường. Ngoài ra, 8.177,66 ha rừng trồng đã được cấp giấy xác nhận mã số vùng trồng rừng nguyên liệu, với khoảng 8.857 mã số tại 8 xã, phường.

Những con số này phản ánh sự chuyển biến trong tổ chức sản xuất lâm nghiệp, từ chú trọng phát triển diện tích sang quan tâm nhiều hơn đến tiêu chuẩn, chất lượng và nguồn gốc sản phẩm. Riêng diện tích quế hữu cơ hiện gần gấp hai lần diện tích rừng trồng được cấp chứng chỉ rừng. Đây là lợi thế để phát triển các sản phẩm lâm nghiệp có giá trị gia tăng, mở rộng thị trường tiêu thụ và nâng cao thu nhập cho người trồng rừng.

anh tin bai

Việc cấp mã số vùng trồng rừng nguyên liệu cũng góp phần tăng khả năng truy xuất nguồn gốc, tạo cơ sở pháp lý để sản phẩm lâm sản đáp ứng yêu cầu của những thị trường có tiêu chuẩn cao về tính hợp pháp và tính bền vững. Qua đó, công tác bảo vệ rừng từng bước gắn chặt hơn với lợi ích kinh tế của chủ rừng và người dân.

Trước diễn biến ngày càng phức tạp của thời tiết, nguy cơ cháy rừng, phá rừng và suy giảm chất lượng rừng, tỉnh chú trọng kết hợp các biện pháp quản lý truyền thống với ứng dụng khoa học, công nghệ trong giám sát tài nguyên rừng.

Các đơn vị chức năng duy trì, nâng cấp phần mềm phát hiện sớm điểm nghi cháy rừng, phần mềm cảnh báo giám sát rừng và tự động phát hiện mất rừng trên cơ sở ứng dụng công nghệ thông tin, viễn thám. Cùng với đó, công tác phòng cháy, chữa cháy rừng được triển khai đồng bộ; phương tiện, thiết bị phục vụ chữa cháy từng bước được đầu tư, trong đó có thiết bị bay không người lái, máy bơm nước áp lực lớn, máy thổi lửa.

Việc ứng dụng công nghệ giúp lực lượng chức năng phát hiện sớm những biến động bất thường, xác định vị trí có nguy cơ cháy hoặc mất rừng để tổ chức kiểm tra, xử lý kịp thời. So với phương thức chủ yếu dựa vào tuần tra trực tiếp, việc kết hợp dữ liệu viễn thám và phần mềm giám sát giúp mở rộng phạm vi theo dõi, nhất là tại những khu vực rừng rộng, địa hình hiểm trở, giao thông khó khăn.

Công tác kiểm kê rừng, theo dõi diễn biến tài nguyên rừng cũng được quan tâm. Tỉnh tăng cường giám sát biến động về diện tích và chất lượng rừng đặc dụng, rừng phòng hộ; kiểm soát các hoạt động có nguy cơ tác động tiêu cực đến rừng tự nhiên, bảo đảm chức năng bảo tồn đa dạng sinh học và phòng, chống thiên tai.

Trong quản lý đất lâm nghiệp, toàn tỉnh đã tổ chức đo đạc và quy chủ 676,6 nghìn ha; đang thực hiện đo đạc, lập hồ sơ địa chính 107,1 nghìn ha cho các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân và cộng đồng dân cư. Diện tích đã thực hiện giao đất, giao rừng đạt 279.918,9 ha, chủ yếu cho các ban quản lý rừng phòng hộ, rừng đặc dụng, công ty lâm nghiệp và hộ gia đình, cá nhân.

Việc xác định rõ chủ thể quản lý, sử dụng đất và rừng có ý nghĩa thiết thực trong nâng cao trách nhiệm bảo vệ tài nguyên. Khi quyền quản lý gắn với trách nhiệm và lợi ích cụ thể, công tác kiểm tra, giám sát, phát hiện và xử lý vi phạm có điều kiện thực hiện hiệu quả hơn. Đây cũng là cơ sở để huy động người dân, cộng đồng tham gia bảo vệ rừng, hạn chế tình trạng lấn chiếm đất rừng và khai thác tài nguyên trái pháp luật.

Bên cạnh chức năng phòng hộ và bảo tồn, tỉnh quan tâm phát huy các giá trị kinh tế từ hệ sinh thái rừng, trong đó có dịch vụ môi trường rừng, dịch vụ hấp thụ và lưu giữ các-bon. Nguồn thu từ các dịch vụ này có thể tạo thêm nguồn lực tái đầu tư cho công tác bảo vệ, phát triển rừng, đồng thời mở ra hướng phát triển kinh tế lâm nghiệp gắn với bảo vệ môi trường.

Mặc dù đã triển khai nhiều nhiệm vụ, quá trình thực hiện Đề án trên địa bàn tỉnh vẫn gặp không ít khó khăn. Sau khi sắp xếp đơn vị hành chính, việc thay đổi tổ chức và chủ thể quản lý khiến một số chỉ tiêu được xác định theo địa giới hành chính cũ phải rà soát, điều chỉnh, chuyển giao về cấp xã và các chủ rừng mới. Một số diện tích rừng do UBND cấp xã quản lý chưa được giao cho chủ rừng nên chưa đủ điều kiện thực hiện chính sách hỗ trợ.

Nguồn lực tài chính cũng là vấn đề đáng quan tâm. Nhu cầu kinh phí để khoanh nuôi, phục hồi và làm giàu rừng khá lớn, trong khi chưa có nguồn vốn Trung ương riêng cho Đề án. Việc lồng ghép kinh phí từ các chương trình, dự án còn phụ thuộc vào kế hoạch vốn từng chương trình. Bên cạnh đó, địa hình đồi núi chia cắt, giao thông khó khăn làm tăng chi phí vận chuyển cây giống và nhân công. Nguồn giống một số loài cây bản địa, cây quý hiếm như pơ mu, giổi xanh, re hương còn hạn chế cả về số lượng và chất lượng.

Đáng chú ý, hiện chưa có hướng dẫn kỹ thuật thống nhất về làm giàu rừng bằng cây bản địa, cây quý hiếm. Điều này ảnh hưởng đến việc lựa chọn loài cây, xác định mật độ trồng, phương thức chăm sóc và đánh giá hiệu quả phục hồi rừng tại từng vùng sinh thái.

anh tin bai

Ưu tiên nguồn lực cho những khu vực rừng phòng hộ, rừng đầu nguồn, khu vực có nguy cơ cao xảy ra lũ quét, sạt lở đất và những diện tích rừng tự nhiên đang suy giảm chất lượng

Trong thời gian tới, tỉnh tiếp tục rà soát, điều chỉnh và thống nhất các chỉ tiêu thực hiện Đề án phù hợp với địa giới hành chính mới; xác định rõ diện tích, chủ thể quản lý và trách nhiệm của từng đơn vị. Công tác đo đạc, lập hồ sơ địa chính, giao đất, giao rừng cần được đẩy nhanh, nhất là tại những diện tích chưa xác định rõ ranh giới hoặc chưa có chủ rừng cụ thể. Đây là điều kiện quan trọng để triển khai chính sách hỗ trợ và nâng cao hiệu quả quản lý rừng tại cơ sở.

Cùng với đó, cần ưu tiên nguồn lực cho những khu vực rừng phòng hộ, rừng đầu nguồn, khu vực có nguy cơ cao xảy ra lũ quét, sạt lở đất và những diện tích rừng tự nhiên đang suy giảm chất lượng. Việc lựa chọn biện pháp kỹ thuật phải căn cứ vào hiện trạng rừng, điều kiện đất đai, khí hậu và khả năng tái sinh của từng khu vực, tránh triển khai dàn trải, thiếu trọng tâm.

Đối với nhiệm vụ làm giàu rừng, tỉnh chú trọng nghiên cứu, lựa chọn các loài cây bản địa phù hợp, ưu tiên cây đa tác dụng, có khả năng chống chịu tốt, vừa có giá trị bảo tồn vừa mang lại lợi ích kinh tế. Các mô hình rừng nhiều tầng, nhiều loài cần được nghiên cứu, xây dựng và đánh giá trong giai đoạn 2027–2028 để làm cơ sở nhân rộng. Song song với đó là tăng cường liên kết với các cơ sở nghiên cứu, đơn vị sản xuất giống nhằm chủ động nguồn cây giống bảo đảm chất lượng.

Việc huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực cũng cần được quan tâm hơn. Bên cạnh ngân sách nhà nước, tỉnh tiếp tục nghiên cứu lồng ghép nguồn vốn từ các chương trình mục tiêu quốc gia, phát huy nguồn thu dịch vụ môi trường rừng, từng bước khai thác tiềm năng từ dịch vụ các-bon và nguồn lực xã hội hóa cho bảo vệ, phát triển rừng.

Nâng cao chất lượng rừng là nhiệm vụ lâu dài, cần sự phối hợp chặt chẽ giữa cơ quan quản lý nhà nước, lực lượng kiểm lâm, chủ rừng và người dân. Khi chất lượng rừng được cải thiện, hệ sinh thái có khả năng phục hồi tốt hơn, chức năng giữ nước, giữ đất và điều tiết dòng chảy được tăng cường, qua đó góp phần giảm thiểu rủi ro thiên tai, bảo vệ môi trường sống và tạo sinh kế ổn định cho người dân. Đây cũng là nền tảng để Lào Cai phát triển kinh tế lâm nghiệp theo hướng bền vững, hài hòa giữa bảo tồn tài nguyên thiên nhiên và nâng cao giá trị kinh tế từ rừng.


Cổng TTĐT / www.laocai.gov.vn
Bình luận

Các tin khác

Tin đọc nhiều