Tập trung đưa chính sách hỗ trợ sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản vào thực tiễn

Ngay sau khi Nghị quyết được ban hành, Sở Nông nghiệp và Môi trường đã tham mưu UBND tỉnh ban hành Quyết định số 13/2026/QĐ-UBND ngày 30/1/2026 quy định trình tự, thủ tục, hồ sơ thực hiện chính sách; đồng thời tham mưu công bố các thủ tục hành chính và ban hành văn bản chỉ đạo các địa phương triển khai. Sở cũng phân công nhiệm vụ cụ thể cho các phòng, đơn vị chuyên môn, hướng dẫn áp dụng tiêu chuẩn, định mức kinh tế - kỹ thuật đối với các lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi, thủy sản và lâm nghiệp.
Cách tổ chức thực hiện được chuyển dần từ hướng dẫn chung sang kiểm tra, hướng dẫn trực tiếp tại cơ sở. Sở Nông nghiệp và Môi trường đã kiểm tra việc triển khai tại 18 xã thuộc các khu vực Bắc Hà, Sa Pa và Mường Khương; đồng thời thành lập các đoàn công tác trực tiếp làm việc, rà soát và hỗ trợ 51 xã, phường chưa đăng ký thực hiện chính sách. Đây là giải pháp nhằm nắm cụ thể nhu cầu, khả năng đáp ứng điều kiện của từng địa bàn thay vì chỉ chờ địa phương và người dân chủ động đăng ký.


Toàn tỉnh có 48 xã, phường đăng ký hỗ trợ theo Nghị quyết
Kết quả bước đầu cho thấy chính sách đã được các địa phương quan tâm. Tính đến ngày 16/8/2026, toàn tỉnh có 48 xã, phường đăng ký hỗ trợ theo Nghị quyết số 21/2025/NQ-HĐND, với tổng kinh phí hỗ trợ 71,435 tỷ đồng đã được UBND tỉnh quyết định tại Quyết định số 2859/QĐ-UBND.
Tại 51 xã, phường chưa đăng ký hỗ trợ, công tác tuyên truyền, rà soát cũng đã được đẩy mạnh. Có 45/51 xã, phường ban hành văn bản triển khai chính sách, với tổng số 78 văn bản. Việc tuyên truyền được thực hiện thông qua họp thôn, tiếp xúc cử tri, hội nghị đối thoại giữa cấp ủy, chính quyền với Nhân dân, hệ thống truyền thanh và các nhóm Zalo, Facebook ở cơ sở. Nội dung tuyên truyền từng bước tập trung vào đối tượng, điều kiện, trình tự, thủ tục và mức hỗ trợ để người dân có thể xác định khả năng tham gia.
Thực tế rà soát cho thấy nhu cầu hỗ trợ sản xuất tại cơ sở khá đa dạng, tập trung vào những lĩnh vực phù hợp với lợi thế sản xuất của từng địa phương. Đến thời điểm báo cáo, 14/51 xã, phường đã ghi nhận hộ gia đình, cơ sở, cá nhân có nhu cầu đăng ký các nội dung hỗ trợ theo Nghị quyết số 21. Các nội dung chủ yếu gồm chăn nuôi theo hướng hàng hóa, phát triển sản phẩm đặc sản, xử lý chất thải chăn nuôi, công trình khí sinh học, phát triển vùng chè nguyên liệu, cây ăn quả và cấp mã số vùng trồng.


Nghị quyết đã tạo thêm cơ sở, động lực để địa phương và người dân rà soát lại quy mô, tổ chức sản xuất, xây dựng vùng nguyên liệu và chuẩn bị điều kiện tham gia các mô hình hỗ trợ
Một số địa phương đã xác định được số lượng đối tượng có nhu cầu tương đối lớn. Phường Trung Tâm có 94 hộ đăng ký nhu cầu; xã Bảo Yên rà soát 55 hộ; xã Sín Chéng 60 hộ; xã Tằng Lỏong 29 hộ; xã Xuân Quang 22 hộ; xã Púng Luông đăng ký 19 nội dung, mô hình với quy mô 640 con… cho thấy khi chính sách được tuyên truyền, hướng dẫn cụ thể, nhu cầu đầu tư phát triển sản xuất ở cơ sở là khá rõ.
Tuy nhiên, số lượng đăng ký chưa đồng nghĩa với số lượng mô hình đủ điều kiện được hỗ trợ. Phần lớn trường hợp hiện mới ở bước rà soát, khảo sát, tiếp nhận danh sách hoặc hoàn thiện hồ sơ. Nhiều hộ chưa đáp ứng yêu cầu về quy mô, điều kiện kỹ thuật, vốn đối ứng và hồ sơ, chứng từ. Chẳng hạn, tại xã Bảo Yên, trong 55 hộ có nhu cầu, mới xác định 17 hộ thuộc 7 thôn bảo đảm điều kiện; xã Khánh Hòa có 9 hộ đáp ứng yêu cầu; xã Cốc San đang kiểm tra, thẩm định và hướng dẫn hoàn thiện hồ sơ cho 9 hộ.
Số liệu đến nay tuy chưa thể đánh giá đầy đủ tác động về tăng thu nhập, năng suất hay giá trị sản phẩm ở thời điểm này, bởi nhiều hồ sơ vẫn đang trong quá trình thẩm định, chưa hoàn thành đầu tư và nghiệm thu để giải ngân song có thể thấy tác động bước đầu rõ nhất của Nghị quyết hiện nay là tạo thêm cơ sở, động lực để địa phương và người dân rà soát lại quy mô, tổ chức sản xuất, xây dựng vùng nguyên liệu và chuẩn bị điều kiện tham gia các mô hình hỗ trợ.
Qua thực tế triển khai cũng bộc lộ sự khác nhau giữa các địa bàn. Ở nhiều xã vùng cao, sản xuất còn nhỏ lẻ, phân tán, trong khi chính sách quy định quy mô tối thiểu đối với một số nội dung. Quy mô chăn nuôi của phần lớn hộ dân chưa đáp ứng yêu cầu; khả năng huy động vốn đối ứng còn hạn chế. Đặc biệt, cơ chế hỗ trợ sau đầu tư yêu cầu đối tượng thụ hưởng phải tự bố trí vốn, hoàn thành nội dung đầu tư, nghiệm thu đạt yêu cầu rồi mới được giải ngân, tạo áp lực lớn đối với hộ nghèo, hộ cận nghèo và hợp tác xã ở vùng cao.
Cùng với vốn và quy mô sản xuất, khả năng hoàn thiện hồ sơ cũng còn vướng mắc do người dân, nhất là ở vùng cao, còn hạn chế trong việc lập, quản lý hồ sơ, hóa đơn, chứng từ. Mối liên kết giữa hộ dân với tổ hợp tác, hợp tác xã, doanh nghiệp và cơ sở thu mua chưa chặt chẽ; chưa hình thành được nhiều chuỗi có hợp đồng, tiêu chuẩn chất lượng và đầu ra ổn định.



Đối với sản phẩm OCOP, điều kiện hỗ trợ đối với sản phẩm 4 sao, 5 sao tương đối cao trong khi số lượng sản phẩm đáp ứng yêu cầu còn hạn chế. Việc hoàn thiện các tiêu chí về chất lượng, sở hữu trí tuệ, chỉ dẫn địa lý và truy xuất nguồn gốc cần thời gian, kinh phí và năng lực tổ chức sản xuất của chủ thể. Đây cũng là lý do số lượng sản phẩm đăng ký hỗ trợ chưa nhiều.
Từ thực tế trên, các đoàn công tác của Sở Nông nghiệp và Môi trường đã hướng dẫn địa phương lựa chọn đúng đối tượng, nội dung hỗ trợ phù hợp với điều kiện sản xuất; chú trọng các mô hình chăn nuôi trâu, bò, lợn, dê, gia cầm, phát triển vùng chè, cây ăn quả và dược liệu dưới tán rừng. Đồng thời hướng dẫn xây dựng vùng nguyên liệu, mã số vùng trồng, tổ chức liên kết sản xuất - tiêu thụ và áp dụng các quy trình kỹ thuật, tiêu chuẩn chất lượng, an toàn thực phẩm, truy xuất nguồn gốc.
Để tiếp tục đưa chính sách đến đúng đối tượng, đúng nhu cầu và sát điều kiện từng địa bàn, trong thời gian tới các xã, phường tiếp tục rà soát thực tế, lựa chọn những hộ dân, hợp tác xã, doanh nghiệp có nhu cầu và có khả năng đáp ứng điều kiện; hạn chế tình trạng đăng ký dàn trải nhưng không đủ năng lực thực hiện. Hồ sơ cần được hướng dẫn ngay từ đầu, gắn với các yêu cầu về giống, quy trình kỹ thuật, an toàn dịch bệnh, an toàn thực phẩm, vệ sinh môi trường, truy xuất nguồn gốc và các tài liệu minh chứng.
Cùng với đó, tổ chức lại sản xuất theo hướng tập trung hơn. Với những địa bàn khó đáp ứng quy mô tối thiểu ở từng hộ, cần phát huy vai trò của tổ hợp tác, hợp tác xã và doanh nghiệp để liên kết nhiều hộ, hình thành vùng sản xuất và vùng nguyên liệu đủ điều kiện. Việc lựa chọn mô hình hỗ trợ cần tính đến khả năng tiêu thụ sản phẩm, tính ổn định của liên kết và khả năng duy trì mô hình sau khi kết thúc hỗ trợ, thay vì chỉ tập trung vào việc hoàn thành chỉ tiêu hỗ trợ trong từng năm.
Đối với nguồn lực tài chính, trong khi tiếp tục thực hiện cơ chế hiện hành, cần tổng hợp đầy đủ những khó khăn thực tế để nghiên cứu, đề xuất cấp có thẩm quyền xem xét các nội dung phù hợp, nhất là đối với hộ nghèo, hộ ở vùng đặc biệt khó khăn và hợp tác xã vùng cao.
Duy trì thường xuyên công tác hướng dẫn cơ sở, các địa phương có nhu cầu đăng ký để Trung tâm Khuyến nông và các cơ quan liên quan tổ chức tập huấn, hướng dẫn chuyên sâu cho cán bộ cấp xã, doanh nghiệp, hợp tác xã và người dân về trình tự, thủ tục, hồ sơ và quy trình kỹ thuật… từ đó nâng cao năng lực cán bộ trực tiếp hướng dẫn chính sách giúp chuyển các quy định của Nghị quyết thành phương án sản xuất cụ thể tại cơ sở.


Tập trung hướng dẫn hoàn thiện hồ sơ, tổ chức sản xuất, kiểm tra nghiệm thu và đánh giá hiệu quả sau hỗ trợ
Nghị quyết số 21/2025/NQ-HĐND đang tạo khung chính sách để Lào Cai huy động thêm nguồn lực cho phát triển sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản. Trong thời gian tới tỉnh Lào Cai chuyển trọng tâm từ tuyên truyền, đăng ký sang hướng dẫn hoàn thiện hồ sơ, tổ chức sản xuất, kiểm tra nghiệm thu và đánh giá hiệu quả sau hỗ trợ; đồng thời xử lý những vướng mắc trong triển khai về quy mô, vốn đối ứng, liên kết và thị trường… để nguồn lực hỗ trợ của tỉnh thực sự trở thành động lực phát triển sản xuất, nâng giá trị nông sản và tạo sinh kế bền vững cho người dân trên địa bàn.



