Giải pháp đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác lịch sử Đảng đáp ủy yêu cầu mới: Góc nhìn thực tiễn ở Thanh Hóa
Thanh Hóa là tỉnh có bề dày lịch sử, văn hóa và truyền thống cách mạng; có diện tích tự nhiên trên 11 nghìn km², dân số trên 4,3 triệu người; địa bàn rộng, có đầy đủ các vùng đồng bằng, miền núi, ven biển, biên giới; Đảng bộ tỉnh có trên 250 nghìn đảng viên. Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa được thành lập ngày 29/7/1930, là một trong những đảng bộ tỉnh được thành lập sớm trong cả nước. Quá trình gần một thế kỷ xây dựng và trưởng thành của Đảng bộ tỉnh; các phong trào cách mạng, các cuộc kháng chiến; quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội, đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập đã để lại một khối lượng tư liệu lịch sử hết sức phong phú. Đây vừa là lợi thế lớn, vừa đặt ra trách nhiệm rất cao đối với công tác nghiên cứu, biên soạn và giáo dục lịch sử Đảng bộ địa phương.
Thực hiện Chỉ thị số 20-CT/TW ngày 18/01/2018 của Ban Bí thư "Về tiếp tục tăng cường, nâng cao chất lượng nghiên cứu, biên soạn, tuyên truyền, giáo dục lịch sử Đảng", Ban Thường vụ Tỉnh ủy Thanh Hóa đã ban hành nhiều văn bản để lãnh đạo, chỉ đạo, từng bước đưa công tác lịch sử Đảng đi vào nền nếp; quan tâm đồng thời cả ba khâu: "Nghiên cứu - biên soạn; thẩm định - xuất bản; tuyên truyền - giáo dục và phát huy giá trị các công trình lịch sử".
Đến trước ngày 01/7/2025, 27/27 huyện, thị xã, thành phố và 547/547 xã, phường, thị trấn của tỉnh đã tổ chức nghiên cứu, biên soạn, xuất bản lịch sử Đảng bộ hoặc lịch sử truyền thống, đạt 100%. Sau khi vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp, toàn tỉnh còn 166 xã, phường; công tác nghiên cứu, biên soạn lịch sử Đảng bộ tiếp tục được triển khai theo yêu cầu bảo đảm sự liên tục của lịch sử sau sắp xếp đơn vị hành chính. Tỉnh đã tổ chức nghiên cứu, biên soạn và xuất bản nhiều công trình có giá trị, như các tập "Lịch sử Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa; Biên niên những sự kiện lịch sử Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa; Bác Hồ với Thanh Hóa - Thanh Hóa làm theo lời Bác"; các công trình về di tích lịch sử cách mạng, cán bộ tiền bối...
Đằng sau những kết quả đó là sự đóng góp của một lực lượng tương đối đông đảo làm công tác lịch sử Đảng. Theo thống kê hiện nay, toàn tỉnh có khoảng 1.000 cán bộ, chuyên gia, cộng tác viên tham gia ở những mức độ khác nhau. Ở cấp tỉnh, Phòng Lý luận chính trị, lịch sử Đảng thuộc Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy có 6 cán bộ; một số cơ quan trong lực lượng vũ trang có cán bộ chuyên trách. Ở cơ sở, các đảng ủy xã, phường phân công cán bộ theo dõi lĩnh vực lịch sử Đảng và huy động những cán bộ có kinh nghiệm tham gia biên soạn. Bên cạnh lực lượng trong hệ thống Đảng còn có đội ngũ giảng viên, nhà khoa học, nhà nghiên cứu thuộc Trường Đại học Hồng Đức, Trường Chính trị tỉnh, các cơ quan văn hóa, bảo tàng, Hội Khoa học lịch sử, lực lượng vũ trang và một đội ngũ cán bộ hưu trí giàu kinh nghiệm.
Một kinh nghiệm đáng chú ý của Thanh Hóa là không xem xây dựng đội ngũ làm công tác lịch sử Đảng chỉ là nhiệm vụ của một cơ quan chuyên môn. Tỉnh từng bước hình thành mạng lưới lực lượng nghiên cứu, kết hợp cán bộ chuyên trách với cán bộ kiêm nhiệm, nhà khoa học, giảng viên, cán bộ lão thành và cộng tác viên ở cơ sở. Cách làm này đặc biệt có ý nghĩa đối với một tỉnh có địa bàn rộng, lịch sử phong phú và khối lượng tư liệu phân tán như Thanh Hóa. Hằng năm, tỉnh quan tâm tổ chức các lớp tập huấn về phương pháp nghiên cứu, biên soạn lịch sử Đảng; mời lãnh đạo, chuyên gia của Viện Lịch sử Đảng, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh trực tiếp truyền đạt chuyên môn, nghiệp vụ; cử cán bộ tham gia các hội nghị, hội thảo khoa học, đào tạo sau đại học; đồng thời đầu tư bước đầu trang thiết bị phục vụ công tác nghiên cứu, số hóa tư liệu.
Thực tiễn trên cho thấy: Khi cấp ủy nhận thức đúng, có cơ chế lãnh đạo thường xuyên, quan tâm xây dựng lực lượng và huy động được đội ngũ chuyên gia, công tác lịch sử Đảng có thể tạo ra những sản phẩm có giá trị lâu dài, vừa phục vụ giáo dục truyền thống vừa trực tiếp cung cấp tư liệu, kinh nghiệm cho công tác lãnh đạo, chỉ đạo.
Những kết quả đạt được là quan trọng, song nhìn từ yêu cầu của giai đoạn mới, đội ngũ làm công tác lịch sử Đảng ở Thanh Hóa cũng đang đứng trước nhiều vấn đề mới.
Thứ nhất là sự thay đổi rất lớn của không gian lịch sử và không gian quản trị sau sắp xếp đơn vị hành chính. Khi địa giới, tên gọi, cơ cấu tổ chức thay đổi, nhiều nguồn tài liệu trước đây thuộc cấp huyện, xã cũ được chuyển giao, phân tán hoặc tổ chức lại. Câu hỏi không chỉ là bảo quản được tài liệu mà còn phải xác lập nguyên tắc kế thừa lịch sử giữa đơn vị cũ và đơn vị mới, bảo đảm lịch sử không bị “đứt đoạn” bởi thay đổi hành chính.
Điều này đặc biệt quan trọng đối với Thanh Hóa. Sau sắp xếp, một xã, phường mới có thể kế thừa lịch sử của nhiều địa phương trước đây, mỗi địa phương có truyền thống, sự kiện, nhân vật và đặc trưng riêng. Người biên soạn vì vậy phải có khả năng xử lý khoa học mối quan hệ giữa tính liên tục của lịch sử với tính mới của đơn vị hành chính, không cơ học cộng ghép lịch sử của các đơn vị cũ, nhưng cũng không để mai một những giá trị đã được tạo dựng qua nhiều thế hệ.
Thứ hai, yêu cầu đối với một cán bộ lịch sử Đảng đang thay đổi căn bản. Trước đây, năng lực sưu tầm tài liệu, xác minh sự kiện và biên soạn niên biểu được xem là những kỹ năng cốt lõi. Hiện nay, như vậy là chưa đủ. Người làm lịch sử Đảng phải có khả năng từ nguồn sử liệu phong phú phát hiện vấn đề; lý giải sự kiện trong bối cảnh cụ thể; đánh giá chủ trương, quyết sách; tổng kết mô hình, kinh nghiệm; từ thực tiễn địa phương góp phần làm sáng tỏ những vấn đề lý luận chung.
Yêu cầu tổng kết 100 năm Đảng lãnh đạo cách mạng Việt Nam cho thấy rõ sự chuyển đổi đó. Công tác lịch sử Đảng phải tiến thêm một bước: từ tái hiện lịch sử đến giải thích lịch sử; từ mô tả sự kiện đến tổng kết thực tiễn; từ tổng kết thực tiễn đến khái quát những bài học, vấn đề có tính quy luật. Đây là yêu cầu rất cao đối với năng lực của đội ngũ cán bộ ở cả cấp tỉnh và cơ sở.
Thứ ba, cuộc chuyển đổi số tạo ra cả cơ hội và thách thức chưa từng có. Hàng triệu trang tài liệu có thể được số hóa, tìm kiếm, đối chiếu trong thời gian rất ngắn; trí tuệ nhân tạo có thể hỗ trợ nhận dạng văn bản, lập chỉ mục, tra cứu, so sánh nguồn tư liệu, hình thành sơ đồ sự kiện và quan hệ nhân vật. Nhưng công nghệ đồng thời làm gia tăng nguy cơ thông tin giả, tài liệu bị cắt ghép, xuyên tạc hoặc tạo dựng.
Do đó, cán bộ lịch sử Đảng trong thời đại số phải có năng lực số nhưng đồng thời phải có năng lực kiểm chứng sử liệu. Công nghệ chỉ có thể hỗ trợ con người, tuyệt đối không thể thay thế nguyên tắc khoa học, trách nhiệm chính trị và thẩm định chuyên môn của người nghiên cứu.
Thứ tư, đội ngũ hiện nay vẫn chưa đồng đều. Ở một số địa phương, cán bộ phụ trách lịch sử Đảng thường kiêm nhiệm nhiều lĩnh vực, thay đổi vị trí công tác; người được đào tạo đúng chuyên ngành lịch sử còn ít. Năng lực nghiên cứu chuyên sâu, tổng kết thực tiễn, sử dụng công nghệ và tham gia đấu tranh phản bác các luận điệu xuyên tạc lịch sử trên không gian mạng còn hạn chế. Vấn đề vì vậy không phải chỉ là mở thêm các lớp tập huấn, mà cần đổi mới toàn diện tư duy, nội dung và phương thức đào tạo, bồi dưỡng.
Trong thời gian tới, đề ra một số giải pháp đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác lịch sử Đảng trên địa bàn tỉnh như sau:
Một là, cần thống nhất nhận thức rằng cán bộ làm công tác lịch sử Đảng không đơn thuần là người làm công việc tư liệu mà là một bộ phận của lực lượng nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn và công tác tư tưởng của Đảng. Do đó, chuẩn của người làm công tác lịch sử Đảng trong giai đoạn mới cần được hình thành trên bốn nhóm năng lực cơ bản: bản lĩnh chính trị và đạo đức nghề nghiệp; phương pháp nghiên cứu lịch sử và xử lý sử liệu; năng lực tổng kết thực tiễn, khái quát lý luận; năng lực số và truyền thông lịch sử. Đây phải là căn cứ để tuyển chọn, bố trí, đào tạo, bồi dưỡng và đánh giá cán bộ. Đào tạo cái gì phải xuất phát từ năng lực còn thiếu, không đào tạo theo kiểu bình quân, đồng loạt; đánh giá sau bồi dưỡng phải dựa vào sản phẩm và khả năng thực hiện nhiệm vụ, không chỉ căn cứ số lớp đã tham dự hay chứng chỉ đã được cấp.
Hai là, trong điều kiện tinh gọn tổ chức bộ máy, không nhất thiết và cũng khó bố trí một bộ máy chuyên trách lớn ở tất cả các xã, phường. Vấn đề quan trọng là mỗi địa phương phải có đầu mối ổn định, được đào tạo cơ bản, đồng thời có khả năng huy động mạng lưới nhà khoa học, cán bộ hưu trí, nhân chứng lịch sử, cán bộ văn hóa, giáo viên lịch sử và những người am hiểu địa phương.
Đối với Thanh Hóa, cần phát huy tốt hơn tiềm năng của Trường Đại học Hồng Đức, Trường Chính trị tỉnh, các cơ quan văn hóa, bảo tàng, Hội Khoa học lịch sử, lực lượng vũ trang và đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý đã nghỉ hưu. Không để nguồn lực tri thức rất lớn này tồn tại rời rạc mà cần hình thành mạng lưới cộng tác viên lịch sử Đảng của tỉnh, có cơ chế cập nhật, kết nối và huy động theo từng đề tài, công trình. Ở cấp tỉnh phải thực sự hình thành lực lượng chuyên sâu, đủ sức hướng dẫn phương pháp, thẩm định khoa học, xử lý những vấn đề lịch sử phức tạp và hỗ trợ chuyên môn cho cơ sở. Cấp tỉnh phải là “trung tâm chuyên môn”; cấp xã là nơi phát hiện, gìn giữ, cung cấp nguồn sử liệu và triển khai nghiên cứu lịch sử địa phương.
Ba là, đổi mới căn bản nội dung đào tạo, chuyển mạnh từ truyền đạt kiến thức sang hình thành năng lực nghiên cứu và giải quyết vấn đề. Chương trình bồi dưỡng trong thời gian tới cần giảm các nội dung có tính giới thiệu chung đã được cán bộ tiếp cận qua tài liệu; dành nhiều thời lượng hơn cho những kỹ năng thực hành. Cán bộ phải được hướng dẫn cách xác định vấn đề nghiên cứu; xây dựng đề cương; khai thác hồ sơ lưu trữ; phỏng vấn nhân chứng; đánh giá độ tin cậy của tài liệu; đối chiếu các nguồn sử liệu khác nhau; xử lý những sự kiện còn có ý kiến khác nhau; viết lịch sử tổ chức đảng trong mối quan hệ với lịch sử địa phương và lịch sử dân tộc; phương pháp tổng kết thực tiễn và khái quát bài học lịch sử.
Đặc biệt, cần bổ sung chuyên đề về nghiên cứu lịch sử sau sắp xếp đơn vị hành chính: nguyên tắc kế thừa lịch sử; xử lý tên gọi, địa giới và tổ chức qua các thời kỳ; phương pháp tích hợp lịch sử các đơn vị cũ; bảo đảm tính liên tục của tổ chức đảng và truyền thống địa phương. Cùng với đó là các kiến thức mới về số hóa sử liệu, xây dựng cơ sở dữ liệu, quản trị dữ liệu lịch sử, an toàn thông tin, khai thác trí tuệ nhân tạo phục vụ nghiên cứu. Nghị quyết số 57-NQ/TW và Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV đang đặt yêu cầu phát triển mạnh nguồn nhân lực số và ứng dụng công nghệ trong toàn hệ thống chính trị; công tác lịch sử Đảng không thể đứng ngoài tiến trình này.
Bốn là, đổi mới phương thức bồi dưỡng theo hướng ngắn gọn, chuyên sâu, theo nhu cầu và gắn trực tiếp với sản phẩm. Không nên chỉ duy trì mô hình mỗi năm tổ chức một lớp tập huấn chung cho số lượng lớn học viên. Cần chuyển dần sang hệ thống các mô-đun bồi dưỡng chuyên sâu: sưu tầm sử liệu; lịch sử truyền khẩu; biên niên sự kiện; phương pháp biên soạn; tổng kết thực tiễn; thẩm định; số hóa; khai thác cơ sở dữ liệu; truyền thông lịch sử trên nền tảng số...
Mỗi lớp nên gắn với một tình huống thực tế của Thanh Hóa. Chẳng hạn, giao học viên xử lý bộ tư liệu của một xã mới hình thành sau sáp nhập; xây dựng đề cương lịch sử từ ba đơn vị cũ; xác minh một sự kiện có nguồn tài liệu chưa thống nhất; hoặc số hóa, thiết lập hồ sơ dữ liệu cho một nhân vật lịch sử. Học phải đi liền với hành. Sau đào tạo, mỗi cán bộ cần có sản phẩm cụ thể; qua sản phẩm để đánh giá năng lực, phát hiện người có khả năng nghiên cứu chuyên sâu và tiếp tục bồi dưỡng.
Năm là, coi năng lực số là một thành tố bắt buộc của cán bộ làm công tác lịch sử Đảng trong giai đoạn mới. Mỗi tài liệu khi số hóa cần được chuẩn hóa thông tin về nguồn gốc, thời gian, tác giả, mức độ xác thực, phạm vi khai thác; tránh tình trạng “số hóa ảnh chụp” nhưng không có khả năng tìm kiếm, liên kết và sử dụng trong nghiên cứu. Trên nền tảng dữ liệu đó, có thể nghiên cứu sử dụng trí tuệ nhân tạo để hỗ trợ nhận dạng văn bản cũ, lập chỉ mục, tìm kiếm theo ngữ nghĩa, đối chiếu thông tin giữa các nguồn, tạo dòng thời gian sự kiện, hỗ trợ phiên âm các cuộc phỏng vấn nhân chứng. Tuy nhiên, AI chỉ là công cụ hỗ trợ, không phải chủ thể thẩm định lịch sử; mọi thông tin sử dụng trong công trình chính thức đều phải được con người kiểm chứng, đối chiếu nguồn và chịu trách nhiệm. Đối với tài liệu mật, tài liệu nội bộ, phải sử dụng hệ thống, nền tảng được cơ quan có thẩm quyền cho phép, tuân thủ tuyệt đối quy định về bảo vệ bí mật của Đảng và Nhà nước.
Sáu là, gắn đào tạo đội ngũ làm lịch sử Đảng với nhiệm vụ tổng kết thực tiễn phục vụ trực tiếp công tác lãnh đạo của cấp ủy. Mỗi công trình lịch sử Đảng bộ không nên dừng lại ở việc trả lời “đã xảy ra những gì”, mà phải cố gắng trả lời thêm: Vì sao thành công? Vì sao có hạn chế? Bài học nào còn nguyên giá trị? Bài học nào phải nhận thức lại trong điều kiện mới? Thanh Hóa đang có một kho thực tiễn rất lớn để nghiên cứu, như: Phát triển công nghiệp và Khu kinh tế Nghi Sơn; phát triển đô thị, du lịch biển; xây dựng nông thôn mới; giảm nghèo ở miền núi; bảo đảm quốc phòng, an ninh khu vực biên giới; kinh nghiệm xây dựng Đảng và vận động Nhân dân qua các thời kỳ... Thông qua nghiên cứu lịch sử, cần tổng kết được những đặc trưng trong phương thức lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh; quan hệ giữa ý Đảng và lòng dân; giữa chủ trương của Trung ương với vận dụng sáng tạo tại địa phương; giữa phát huy truyền thống với đổi mới tư duy phát triển.
Bảy là, xây dựng cơ chế phát hiện, sử dụng, đãi ngộ và truyền nghề đối với người làm công tác lịch sử Đảng. Đây là lĩnh vực đòi hỏi kiến thức tích lũy lâu dài; một cán bộ mới được phân công không thể ngay lập tức có kinh nghiệm xử lý sử liệu, nhận diện nhân chứng, đánh giá nguồn hay giải quyết những vấn đề lịch sử phức tạp. Do đó, cùng với đào tạo chính quy cần đặc biệt coi trọng cơ chế truyền nghề giữa các thế hệ. Mỗi cán bộ trẻ làm công tác lịch sử Đảng nên có điều kiện tham gia thực tế cùng các nhà nghiên cứu có kinh nghiệm; trực tiếp tham gia một công trình từ khâu sưu tầm tư liệu đến xây dựng đề cương, viết bản thảo và thẩm định. Cần có cơ chế phù hợp để huy động các nhà khoa học, cán bộ lão thành, cán bộ lãnh đạo nghỉ hưu có uy tín, chuyên môn và vốn sống tham gia. Đối với lĩnh vực lịch sử Đảng, đây không chỉ là sử dụng chất xám mà còn là cách chuyển giao ký ức, kinh nghiệm và nguồn sử liệu sống giữa các thế hệ.
Tám là, đào tạo đội ngũ làm công tác lịch sử Đảng phải đồng thời hướng tới nâng cao năng lực tuyên truyền, giáo dục và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Người làm lịch sử Đảng hôm nay cần biết chuyển hóa kết quả nghiên cứu thành những sản phẩm phù hợp với từng đối tượng: sách phổ thông; chuyên đề giáo dục địa phương; phim tài liệu; đồ họa; bản đồ số; video ngắn; triển lãm số; nội dung trên mạng xã hội và các nền tảng truyền thông mới. Đặc biệt, phải nâng cao năng lực nhận diện và phản bác những luận điệu xuyên tạc lịch sử, phủ nhận thành quả cách mạng, hạ thấp vai trò lãnh đạo của Đảng. Muốn đấu tranh có sức thuyết phục thì trước hết phải có sử liệu chính xác, lập luận khoa học và phương pháp truyền đạt phù hợp, tránh đơn giản hóa hoặc hành chính hóa công tác tuyên truyền.
Từ thực tiễn Thanh Hóa có thể thấy, yêu cầu đặt ra không chỉ là xây dựng đội ngũ cán bộ lịch sử Đảng “đủ về số lượng, bảo đảm về chuyên môn”, mà cao hơn là xây dựng một lực lượng có bản lĩnh chính trị vững vàng, tư duy khoa học, năng lực tổng kết thực tiễn, khả năng khái quát lý luận, làm chủ công nghệ số và có sức truyền cảm hứng về lịch sử.
Đó cũng chính là điều kiện để công tác lịch sử Đảng thực sự vượt ra khỏi giới hạn của việc ghi lại quá khứ, trở thành một bộ phận quan trọng của công tác tư tưởng, lý luận; góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, củng cố niềm tin của Nhân dân; đồng thời cung cấp những bài học, kinh nghiệm và luận cứ thực tiễn quý báu cho công tác lãnh đạo của Đảng trong kỷ nguyên phát triển mới của dân tộc.



