Triển khai Nghị quyết 27: Quan tâm đặc thù, lợi thế từng vùng, chú trọng dự án có hiệu quả kết nối
(ĐCSVN) - Phát biểu ý kiến tại nghị trường, đại biểu Quốc hội đề nghị trong quá trình triển khai Nghị quyết số 27-NQ/TW, Chính phủ tiếp tục quan tâm đến đặc thù, vai trò và lợi thế của từng vùng, lựa chọn những nhiệm vụ ưu tiên phù hợp, trong đó chú trọng các dự án thực sự cần thiết, có hiệu quả kết nối và phù hợp với nguồn lực.
Sáng 31/10, dưới sự điều hành của Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Hồng, Quốc hội tiếp tục thảo luận ở hội trường về tình hình phát triển kinh tế-xã hội, thực hiện ngân sách nhà nước và kế hoạch đầu tư công.
Một trong những nội dung được đại biểu Quốc hội quan tâm là yêu cầu phát huy lợi thế của từng vùng, tăng cường liên kết vùng để thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế theo tinh thần Nghị quyết số 27-NQ/TW của Bộ Chính trị.
Đầu tư hạ tầng giao thông cần gắn với khả năng thu hút doanh nghiệp
Đề cập vấn đề từ góc độ vùng trung du và miền núi phía bắc, đại biểu Tạ Thị Yên (Đoàn Điện Biên), Phó Chủ nhiệm Ủy ban Công tác đại biểu của Quốc hội cho rằng cần nhìn nhận đầy đủ hơn những đóng góp của khu vực này đối với sự phát triển chung của đất nước.
Đây là vùng có vị trí đặc biệt quan trọng về quốc phòng, an ninh, có diện tích rừng lớn, nhiều lưu vực sông quan trọng. Rừng đầu nguồn góp phần điều tiết dòng chảy, hạn chế xói mòn, sạt lở, bảo đảm nguồn nước cho sản xuất, sinh hoạt và hoạt động của các công trình thủy điện.
"Những đóng góp đó có ý nghĩa rất lớn đối với cả nước, tuy nhiên không phải lúc nào cũng thể hiện đầy đủ qua các chỉ tiêu tăng trưởng kinh tế của từng địa phương", đại biểu Tạ Thị Yên nêu rõ.

Nêu thực trạng người dân miền núi, nhất là đồng bào dân tộc thiểu số, trực tiếp tham gia bảo vệ nhiều diện tích rừng trong điều kiện đời sống còn không ít khó khăn, đại biểu đề nghị khi xác định chính sách phát triển vùng, cần quan tâm thỏa đáng đến những đóng góp này, đồng thời tạo điều kiện để người dân tham gia bảo vệ rừng có thêm sinh kế, thu nhập.
Theo đại biểu, những năm qua, chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng đã phát huy tác dụng rất tích cực. Chính phủ cũng đã ban hành quy định về dịch vụ hấp thụ và lưu giữ carbon của rừng, tạo thêm cơ sở huy động nguồn lực cho bảo vệ, phát triển rừng.
Đại biểu đề nghị Chính phủ tiếp tục chỉ đạo triển khai hiệu quả các chính sách này; đánh giá mức độ hưởng lợi thực tế của cộng đồng dân cư và cho người trực tiếp bảo vệ rừng, bảo đảm việc quản lý, sử dụng nguồn thu công khai, minh bạch, đúng quy định.
"Đây là việc làm hết sức thiết thực, vừa góp phần cải thiện đời sống người dân miền núi, vừa bảo vệ nguồn nước và môi trường sinh thái cho cả nước", đại biểu đoàn Điện Biên nhấn mạnh.
Vấn đề nữa được đại biểu Tạ Thị Yên kiến nghị là cần quan tâm đồng bộ hơn đến hạ tầng giao thông và các điều kiện thu hút doanh nghiệp đầu tư vào vùng.
Đại biểu nhìn nhận, mặc dù nhiều công trình giao thông quan trọng đã được quan tâm đầu tư thời gian qua, song một số địa phương có tiềm năng phát triển nông nghiệp hàng hóa vẫn khó thu hút doanh nghiệp đầu tư vào bảo quản, chế biến và tiêu thụ sản phẩm. Nguyên nhân là chi phí vận chuyển còn cao, vùng nguyên liệu còn phân tán, thiếu cơ sở bảo quản, kho lạnh và dịch vụ logistics.
Đồng tình việc tăng cường kết nối giao thông liên vùng, đại biểu Tạ Thị Yên cho rằng đầu tư hạ tầng giao thông cần gắn với nhu cầu phát triển sản xuất và khả năng thu hút doanh nghiệp.
"Chính phủ tiếp tục ưu tiên các công trình quan trọng đã có trong quy hoạch, nhất là những tuyến kết nối vùng nguyên liệu với cơ sở sơ chế, bảo quản, chế biến, cửa khẩu và thị trường tiêu thụ", đại biểu đề nghị.
Cùng với đó, cần thực hiện hiệu quả chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn, chú trọng vào các dự án chế biến, bảo quản nông sản và dịch vụ logistics tại địa bàn miền núi. Làm tốt những khâu này sẽ góp phần phát huy lợi thế của vùng, tạo thêm việc làm và nâng cao thu nhập cho người dân.
Về tổ chức không gian phát triển vùng, đại biểu Tạ Thị Yên nhấn mạnh việc sắp xếp các tỉnh, thành phố đã tạo thêm điều kiện kết nối vùng sản xuất với các trung tâm công nghiệp, đô thị và thị trường tiêu thụ. Do đó, cần tận dụng tốt không gian phát triển mới sau sắp xếp đơn vị hành chính, phát huy thế mạnh của từng địa phương trong mối liên kết chung của vùng.
Đại biểu đề nghị Chính phủ tiếp tục chỉ đạo rà soát, điều chỉnh quy hoạch sau sắp xếp, bảo đảm thống nhất với quy hoạch vùng và Quy hoạch tổng thể quốc gia; lựa chọn các dự án thực sự cần thiết, có hiệu quả kết nối và phù hợp với nguồn lực.
Đối với vùng trung du và miền núi phía bắc, cần tiếp tục phát huy lợi thế về nông nghiệp đặc sản, kinh tế rừng, dược liệu, công nghiệp chế biến và du lịch gắn với cảnh quan thiên nhiên, bản sắc văn hóa của đồng bào các dân tộc.
Quan trọng hơn, tổ chức thực hiện tốt các chính sách đã có, tạo điều kiện để các doanh nghiệp, hợp tác xã liên kết với người sản xuất, để người dân được hưởng lợi từ quá trình phát triển.
Đánh giá hiệu quả liên kết qua khả năng tiêu thụ sản phẩm, thu hút đầu tư, tạo việc làm
Vấn đề khai thác không gian phát triển mới, liên kết kinh tế vùng và đầu tư hạ tầng kết nối cũng là nội dung được đại biểu Lý Thị Lan (Đoàn Tuyên Quang) quan tâm đề cập khi phát biểu tại nghị trường về kinh tế-xã hội trước đó.
Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 28/8/2026 của Bộ Chính trị đặt ra yêu cầu tổ chức lại không gian phát triển quốc gia theo tiềm năng, lợi thế và sự liên kết giữa các vùng, các địa phương. Theo đại biểu, điều cần quan tâm là làm thế nào chuyển những lợi thế đã xác định trong quy hoạch thành các hoạt động kinh tế liên kết, tạo thêm giá trị và cơ hội phát triển cho cả vùng.
Vùng trung du và miền núi phía bắc có nguồn nguyên liệu nông, lâm nghiệp lớn; các trung tâm công nghiệp, chế biến và dịch vụ tại Thái Nguyên, Phú Thọ; hệ thống di sản lịch sử, văn hóa, cảnh quan thiên nhiên phong phú và nhiều cửa khẩu kết nối với thị trường Trung Quốc.
Những lợi thế ấy có khả năng bổ trợ cho nhau, song đại biểu cho rằng, nếu từng địa phương khai thác riêng lẻ thì khó hình thành các chuỗi sản xuất, dịch vụ và thị trường đủ sức thu hút đầu tư.

Quy hoạch vùng trung du và miền núi phía bắc được điều chỉnh tại Quyết định số 610/QĐ-TTg đã xác định các hành lang kinh tế theo hướng bắc-nam và đông-tây. Tuy nhiên, kết nối giao thông chưa đồng bộ; liên kết giữa vùng nguyên liệu, chế biến và tiêu thụ còn hạn chế. Có nơi có nguyên liệu nhưng thiếu năng lực chế biến, nơi có năng lực sản xuất lại chưa tiếp cận thuận lợi với thị trường.
Vì vậy, đại biểu đề nghị cần đi thêm một bước từ việc xác định hành lang kinh tế trong quy hoạch: làm rõ những sản phẩm, ngành hàng, dịch vụ có thể liên kết; từng địa phương có thế mạnh ở khâu nào; doanh nghiệp và người dân tham gia, hưởng lợi ra sao. Từ nhu cầu phát triển thực tế đó mới xác định các kết nối hạ tầng cần ưu tiên.
Đại biểu Lý Thị Lan đặc biệt lưu tâm vấn đề hạ tầng giao thông kết nối, khẳng định đây chính là huyết mạch của liên kết kinh tế vùng. Một tuyến cao tốc nếu chưa kết nối thuận lợi với vùng sản xuất, khu công nghiệp và cửa khẩu thì hiệu quả khai thác của cả hành lang sẽ bị hạn chế.
Các trục từ vùng Thủ đô qua Phú Thọ, Tuyên Quang đến cửa khẩu quốc tế Thanh Thủy và trục đông-tây qua Thái Nguyên, Tuyên Quang, Lào Cai cần được nhìn nhận như một mạng lưới phục vụ sản xuất, thương mại, du lịch và giao thương quốc tế.
Đại biểu đề nghị Chính phủ chỉ đạo các bộ và địa phương lựa chọn những chuỗi liên kết kinh tế có lợi thế trên từng hành lang; tăng cường kết nối thông tin về vùng nguyên liệu, năng lực chế biến, nhu cầu thị trường để doanh nghiệp, hợp tác xã hình thành quan hệ cung ứng ổn định.
Trong đó, cần phát huy vai trò lan tỏa của các trung tâm công nghiệp, dịch vụ tại Thái Nguyên, Phú Thọ đến các địa bàn miền núi, biên giới. Hiệu quả liên kết cần được đánh giá qua khả năng tiêu thụ sản phẩm, thu hút đầu tư, tạo việc làm và nâng cao thu nhập cho người dân.
Đại biểu cũng đề nghị ưu tiên hoàn thiện đồng bộ hạ tầng giao thông phục vụ các hành lang kinh tế: nâng cấp cao tốc Tuyên Quang-Phú Thọ lên bốn làn xe hoàn chỉnh; đầu tư đồng bộ cao tốc Tuyên Quang-Hà Giang đến cửa khẩu quốc tế Thanh Thủy; thúc đẩy nghiên cứu, chuẩn bị đầu tư trục Thái Nguyên-Tuyên Quang-Lào Cai.
Đồng thời, quan tâm các tuyến nối từ vùng sản xuất, cơ sở chế biến đến cao tốc, đầu mối vận tải và cửa khẩu; việc hình thành trung tâm logistics cần căn cứ vào nguồn hàng, nhu cầu vận tải và khả năng tham gia của doanh nghiệp.


