Tự chủ về khoa học, công nghệ: Việt Nam sẵn sàng bước vào cuộc chơi sáng tạo toàn cầu
Cổng thông tin điện tử
Đảng Cộng sản Việt Nam
Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam Bùi Thị Minh Hoài tiếp Đoàn đại biểu Hội LHTN CampuchiaMới Chủ tịch Quốc hội thăm, động viên các bệnh nhi tại Bệnh viện Nhi đồng 1Mới Thủ tướng trao quà của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tặng các bệnh nhi ung thưMới Đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết số 80-NQ/TW, tạo chuyển biến trong phát triển văn hóaMới [Ảnh] Phiên họp Thường trực Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển văn hóa Việt NamMới Phát biểu chính sách của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Nghị viện CanadaMới Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm: Việt Nam sẵn sàng cùng Canada xây dựng quan hệ Đối tác Chiến lược có chiều sâuMới Tuyên bố chung về quan hệ Đối tác Chiến lược giữa Việt Nam và CanadaMới Toàn quyền Canada chủ trì chiêu đãi trọng thể Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô LâmMới Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm hội đàm với Thủ tướng Canada Mark CarneyMới Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm hội kiến Chủ tịch Thượng viện và Chủ tịch Hạ viện CanadaMới Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm hội kiến với Toàn quyền CanadaMới Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tiếp Nhóm Nghị sĩ hữu nghị Canada - Việt NamMới Lễ đón Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm thăm cấp Nhà nước CanadaMới [Megastory] Bài 2: Để chuyển đổi số tạo ra giá trị thực chấtMới Đồng chí Thường trực Ban Bí thư Trần Cẩm Tú thăm, tặng quà thiếu nhi Làng trẻ em SOS Hà NộiMới Quy định mới về chế độ báo cáo Bộ Chính trị, Ban Bí thư, lãnh đạo chủ chốtMới Kết luận của Bộ Chính trị về định hướng trọng tâm hoạt động giám sát nhiệm kỳ Quốc hội khoá XVIMới [Megastory] Bài 1: Chuyển đổi số trong các cơ quan Đảng: Khi sản phẩm trở thành thước đoMới Việt Nam và Lào trao đổi kinh nghiệm về công tác tổ chức, xây dựng Đảng
A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Tự chủ về khoa học, công nghệ: Việt Nam sẵn sàng bước vào cuộc chơi sáng tạo toàn cầu

(ĐCSVN)- Vấn đề cốt lõi không nằm ở cam kết, mà ở năng lực hiện thực hóa bằng những sản phẩm và giá trị cụ thể, qua đó khẳng định vai trò và trách nhiệm của khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới. Đó là chia sẻ của GS.TS Trần Hồng Thái, Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam nhân sự kiện 5 cơ quan thuộc Chính phủ chuyển sang là đơn vị sự nghiệp của Ban Chấp hành Trung ương Đảng.

GS.TS Trần Hồng Thái, Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam

 

Vị thế mới đặt ra yêu cầu cao hơn nhưng cũng mở ra không gian rộng hơn

PV: Từ 1/4/2026, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam là 1 trong 5 cơ quan từ cơ quan của Chính phủ sang là đơn vị sự nghiệp của Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Xin Chủ tịch cho biết việc chuyển đổi này sẽ tác động ra sao đến định hướng chiến lược, cơ chế hoạt động và vị thế của Viện?

GS.TS Trần Hồng Thái: Để hiểu đúng ý nghĩa của quyết định này, trước hết cần đặt vào bức tranh tổng thể. Hội nghị Trung ương 2 Khóa XIV đã thống nhất chủ trương chuyển năm cơ quan gồm Đài Truyền hình Việt Nam, Đài Tiếng nói Việt Nam, Thông tấn xã Việt Nam, Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam và Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam sang mô hình đơn vị sự nghiệp của Ban Chấp hành Trung ương. Năm cơ quan đại diện cho ba trụ cột nền tảng của sức mạnh quốc gia trong kỷ nguyên mới: định hướng tư tưởng thông qua hệ thống truyền thông, tri thức xã hội thông qua nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn, và tri thức khoa học công nghệ thông qua nghiên cứu tự nhiên và kỹ thuật. Việc Đảng đặt cả ba trụ cột đó dưới sự lãnh đạo trực tiếp của mình ở cấp cao nhất cho thấy một nhận thức rõ ràng: trong giai đoạn bứt phá, những lĩnh vực mang tính quyết định đối với vận mệnh quốc gia không thể được lãnh đạo theo cách gián tiếp.

Riêng với Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, đây là lần đầu tiên trong lịch sử một tổ chức nghiên cứu khoa học tự nhiên và công nghệ được đặt trực tiếp dưới sự lãnh đạo của Đảng ở cấp cao nhất. Điều đó nói lên rằng Đảng coi khoa học công nghệ không phải là lĩnh vực kỹ thuật thuần túy, mà là vấn đề chiến lược và vấn đề của toàn dân tộc. Thông điệp đó hoàn toàn thống nhất với tinh thần Nghị quyết 57 của Bộ Chính trị về phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo và với khát vọng đưa đất nước bứt phá trong kỷ nguyên mới bằng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số mà Tổng Bí thư Tô Lâm đã nhiều lần nhấn mạnh.

Về tác động đến định hướng chiến lược, vị thế mới đặt ra yêu cầu cao hơn nhưng cũng mở ra không gian rộng hơn. Viện Hàn lâm không chỉ thực hiện nhiệm vụ chuyên môn mà còn tham gia trực tiếp vào quá trình tư vấn chiến lược, cung cấp luận cứ khoa học phục vụ sự lãnh đạo của Đảng. Kết quả nghiên cứu phải đến được với những nơi đưa ra quyết sách quan trọng nhất một cách thực chất và kịp thời hơn. Vị thế mới tạo điều kiện để Viện Hàn lâm tham mưu hình thành các chính sách khoa học đặc thù, tháo gỡ những vướng mắc về cơ chế mà chúng tôi đã nhiều năm kiến nghị.

Về cơ chế hoạt động, vị thế mới mở ra cơ hội để thiết kế cơ chế tài chính cho nghiên cứu khoa học theo logic của khoa học, không phải theo logic của quản lý hành chính thông thường. Vòng đời đầu tư cho nghiên cứu cơ bản có thể được kéo dài phù hợp với quy luật tích lũy tri thức. Cơ chế thu hút và giữ chân nhân tài khoa học có thể được thiết kế linh hoạt hơn để cạnh tranh được với khu vực tư nhân và quốc tế. Đây là những điều chỉnh mang tính căn bản mà vị thế mới tạo ra điều kiện để tiếp cận.

Đồng chí Trần Cẩm Tú, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư trao Quyết định của Bộ Chính trị cho đại diện lãnh đạo 5 cơ quan. ​​

 

PV: Trước bối cảnh, tình hình mới như vậy, Viện Hàn lâm Khọc học và Công nghệ Việt Nam cần chuẩn bị những gì để thích ứng hiệu quả và tiếp tục phát huy vai trò nòng cốt trong nghiên cứu cơ bản và phát triển công nghệ cao, thưa Chủ tịch?

GS.TS Trần Hồng Thái: Về phần chuẩn bị, chúng tôi đang tập trung vào ba hướng song song: Thứ nhất là kiện toàn tổ chức theo hướng tinh gọn, tập trung vào các hướng nghiên cứu ưu tiên chiến lược, phù hợp với 11 nhóm công nghệ chiến lược quốc gia.

Thứ hai là xây dựng lại chiến lược khoa học theo nguyên tắc: từ nghiên cứu cơ bản nay đến làm chủ và phát triển công nghệ Việt, sản phẩm Việt phục vụ các ngành kinh tế mũi nhọn.

Thứ ba là tham mưu hình thành chính sách đặc thù để thu hút nhân tài khoa học, kể cả các chuyên gia người Việt đang công tác ở nước ngoài, tạo điều kiện để họ trở về và cống hiến trong môi trường xứng tầm.

Câu trả lời xứng đáng nhất với niềm tin mà Trung ương đã trao không phải là lời hứa hay tuyên bố, mà là chất lượng khoa học thực sự, là sản phẩm cụ thể và là đội ngũ liêm chính, tâm huyết. Mỗi cán bộ, nhà khoa học của Viện Hàn lâm đều hiểu điều đó.

Không có nguồn lực dài hạn thì không thể có công nghệ chiến lược bền vững

PV: Một vấn đề được nhắc đến nhiều là khoảng cách giữa nghiên cứu khoa học và ứng dụng thực tiễn vẫn còn lớn. Theo Chủ tịch, đâu là những nút thắt thể chế quan trọng nhất đang cản trở quá trình chuyển hóa tri thức khoa học thành động lực phát triển kinh tế - xã hội? Viện Hàn lâm đã có giải pháp gì để thúc đẩy chuyển giao kết quả nghiên cứu vào sản xuất và đời sống?

GS.TS Trần Hồng Thái: Trước khi nói về những việc cần làm, tôi muốn ghi nhận một thực tế quan trọng: bức tranh thể chế đã thay đổi rất tích cực trong thời gian gần đây. Luật Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo số 93/2025/QH15, có hiệu lực từ tháng 10 năm 2025, là bước đột phá thực sự về mặt pháp lý. Luật đã chuyển mô hình quản lý từ tiền kiểm sang hậu kiểm, trao cho các tổ chức khoa học và công nghệ quyền tự quyết về định hướng nghiên cứu, nhân sự và phân bổ tài chính, đồng thời xác lập cơ sở pháp lý để thương mại hóa kết quả nghiên cứu và phân chia lợi ích theo mức độ đóng góp. Đây là nền tảng pháp lý tốt để chúng tôi triển khai mạnh hơn.

Trên cơ sở đó, chúng tôi xác định ba hướng hành động trọng tâm để rút ngắn khoảng cách giữa nghiên cứu và ứng dụng. Thứ nhất, chúng tôi đang chủ động xây dựng thị trường công nghệ hoạt động thực chất, bởi có khung pháp lý tốt chưa phải là có thị trường công nghệ. Điều mà luật không thể tạo ra ngay được là đội ngũ môi giới công nghệ chuyên nghiệp, cơ chế định giá tài sản trí tuệ minh bạch và sự tin cậy lẫn nhau giữa nhà khoa học với doanh nghiệp, vốn có văn hóa và ngôn ngữ rất khác nhau. Tất cả phải qua thực tiễn vận hành mới hình thành được.

Vì vậy chúng tôi đã ký kết hợp tác chiến lược với một số tập đoàn lớn trong nước để tiếp nhận đặt hàng nghiên cứu theo nhu cầu thực tế, thay vì chờ doanh nghiệp tìm đến, đồng thời từng bước xây dựng đội ngũ trung gian kết nối hai phía.

Thứ hai, chúng tôi đang kiến nghị cơ chế ngân sách trung hạn ba đến năm năm cho các chương trình khoa học chiến lược, thoát khỏi ràng buộc của chu kỳ ngân sách thông thường. Lý do rất cụ thể: nghiên cứu cơ bản cần từ mười đến hai mươi năm để cho ra kết quả ứng dụng, đó là quy luật của khoa học, không phải đặc thù của Việt Nam. Không có nguồn lực dài hạn thì không thể có công nghệ chiến lược bền vững. Trong vị thế mới trực thuộc Ban Chấp hành Trung ương, chúng tôi có thêm điều kiện để kiến nghị này được xem xét thực chất hơn, và đây sẽ là một trong những ưu tiên của chúng tôi trong thời gian tới.

Thứ ba, và quan trọng nhất, chúng tôi xác định Viện Hàn lâm là đầu mối hình thành hệ sinh thái kết nối bốn thành tố: cơ quan quản lý nhà nước, viện nghiên cứu và trường đại học, doanh nghiệp, và địa phương. Thiếu một thành tố hoặc cả bốn không gắn kết được với nhau thì tiềm lực khoa học dù lớn đến đâu cũng không thể chuyển hóa thành sức mạnh kinh tế. Đây là bài toán hệ thống và chúng tôi không chờ nó tự giải quyết. Chúng tôi đang định hướng lại Học viện Khoa học và Công nghệ và Trường Đại học Khoa học và Công nghệ Hà Nội để đào tạo gắn trực tiếp với nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể, tạo ra thế hệ nhà khoa học vừa có nền tảng lý thuyết vừa có kỹ năng ứng dụng, và cam kết đưa ra sản phẩm đo đếm được trong từng lĩnh vực ưu tiên, không dừng lại ở công bố quốc tế.

Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam và Đại sứ Pháp tại Việt Nam ủng hộ tăng cường hợp tác khoa học và công nghệ giữa hai bên. Nguồn ảnh: VAST

 

PV: Thưa Chủ tịch, trong bối cảnh hợp tác quốc tế ngày càng giữ vai trò then chốt, Viện Hàn lâm chủ trương không chỉ tiếp nhận công nghệ hoàn chỉnh mà còn chủ động tham gia vào quá trình hình thành tri thức và nền tảng khoa học. Theo Chủ tịch, cách tiếp cận này mang lại những lợi ích chiến lược gì và đã được Viện triển khai như thế nào trong thực tiễn?

GS.TS Trần Hồng Thái: Trong tư duy hợp tác quốc tế truyền thống, hội nhập thường được hiểu là tiếp nhận: tiếp nhận công nghệ, tiếp nhận tài trợ, tiếp nhận chuẩn mực từ các nước phát triển. Cách tiếp cận đó không sai, nhưng nó có một giới hạn cố hữu là người tiếp nhận mãi mãi đi sau người tạo ra.

Chúng tôi đang chuyển dịch sang một triết lý khác, đó là hợp tác để cùng các chuyên gia trong và ngoài nước phát triển công nghệ thành công nghệ Việt Nam, sản phẩm Việt Nam, thay vì chỉ là người tiêu thụ công nghệ do người khác tạo ra.

Sự khác biệt này là vấn đề chiến lược sâu xa. Khi nhà khoa học Việt Nam tham gia ngay từ giai đoạn nghiên cứu cơ bản cùng đối tác quốc tế, họ hiểu được bản chất của công nghệ từ bên trong, có thể thích nghi, cải tiến và phát triển nó thành sản phẩm mang thương hiệu Việt, phục vụ nhu cầu Việt. Đó là sự khác biệt giữa năng lực công nghệ thực sự và năng lực lắp ráp. Với một quốc gia đặt mục tiêu tự chủ chiến lược về khoa học công nghệ, chỉ loại thứ nhất mới có giá trị bền vững.

Trong thực tiễn, chúng tôi đang triển khai triết lý này qua các mô hình cụ thể đã được kiểm nghiệm. Với Nhật Bản, quan hệ hợp tác trong lĩnh vực vũ trụ mà kết quả hữu hình nhất là Trung tâm Vũ trụ Việt Nam và vệ tinh LOTUSat-1, không dừng lại ở chuyển giao kỹ thuật. Trong suốt gần hai thập kỷ, đội ngũ kỹ sư và nhà khoa học Việt Nam đã cùng thiết kế, cùng thực hiện các nhiệm vụ kỹ thuật và cùng chịu trách nhiệm về kết quả. Đây không phải là công trình Nhật Bản xây cho Việt Nam, mà là công trình hai bên cùng tạo ra, trong đó đội ngũ Việt Nam nắm giữ toàn bộ năng lực vận hành.

Với Pháp, Trường Đại học Khoa học và Công nghệ Hà Nội sau gần hai thập kỷ hoạt động là minh chứng của một mô hình khác: đào tạo và nghiên cứu liên kết thực sự, nơi giảng viên hai phía cùng hướng dẫn nghiên cứu sinh, cùng ký tên trên các công bố quốc tế từ các phòng thí nghiệm đặt tại Hà Nội. Không phải nhập khẩu giáo trình, không phải gửi sinh viên đi học, mà là xây dựng năng lực nghiên cứu ngay trên đất Việt Nam với chuẩn mực quốc tế. Với nhiều tổ chức đa phương và đối tác khác trong khu vực, chúng tôi tham gia các mạng lưới nghiên cứu toàn cầu với tư cách thành viên bình đẳng, đặt những câu hỏi nghiên cứu xuất phát từ bối cảnh Việt Nam nhưng có giá trị phổ quát với cộng đồng khoa học quốc tế.

Lợi ích chiến lược của cách tiếp cận này không chỉ là công nghệ mà còn là con người. Những nhà khoa học đã từng là đồng tác giả với các nhóm nghiên cứu hàng đầu thế giới sẽ không bao giờ quay trở lại tư thế của người tiếp nhận. Họ biết mình có thể đặt câu hỏi ngang bằng, có thể phản biện và có thể dẫn dắt. Không có quốc gia nào thực sự mạnh về khoa học công nghệ mà thiếu đội ngũ khoa học đủ tự tin để đứng ngang hàng với thế giới và làm ra sản phẩm của chính mình. Xây dựng đội ngũ đó là việc chúng tôi đang làm, và đó cũng là lý do nghiên cứu cơ bản không thể bị coi là thứ xa xỉ trong giai đoạn này.

Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính và các đại biểu cắt băng khánh thành công trình Trung tâm Vũ trụ Việt Nam

 

PV: Quyết định 1131/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ đã xác định rõ 11 nhóm công nghệ chiến lược với 35 sản phẩm trọng điểm, từ trí tuệ nhân tạo, blockchain đến vật liệu mới, năng lượng tái tạo và công nghệ vũ trụ, đòi hỏi nền tảng khoa học cơ bản vững chắc và tích lũy tri thức dài hạn. Từ góc độ quản lý, theo Giáo sư, cần xây dựng lộ trình như thế nào để phát triển hiệu quả, phù hợp với thực tiễn?

GS.TS Trần Hồng Thái: Quyết định 1131/QĐ-TTg thể hiện tư duy chiến lược rõ ràng, và lần đầu tiên chúng ta có một danh mục cụ thể về công nghệ ưu tiên, tạo cơ sở để tập trung nguồn lực có trọng tâm. Từ góc độ của người làm nghiên cứu, chúng tôi nhìn nhận đây là cơ hội để Viện Hàn lâm phát huy đúng vai trò nền tảng khoa học cho nhóm công nghệ đó, đồng thời chủ động đưa vào lộ trình những hướng ứng dụng gắn với lợi thế tài nguyên và sinh thái đặc thù của Việt Nam, phát triển thành công nghệ Việt, sản phẩm Việt phục vụ đời sống và xuất khẩu.

Từ góc độ quản lý, tôi cho rằng lộ trình cần được xây dựng theo tư duy phân kỳ rõ ràng, mỗi giai đoạn có logic và nhiệm vụ trọng tâm riêng. Trong một đến ba năm tới, ưu tiên hàng đầu là đưa ngay những kết quả nghiên cứu cơ bản đã tích lũy trong các viện và trường đại học vào ứng dụng thực tiễn, chuyển hóa thành công nghệ và sản phẩm phục vụ các ngành kinh tế mũi nhọn, không cần chờ nghiên cứu mới. Kho tri thức tích lũy rất lớn và cần có cơ chế, cầu nối để đưa nó ra phục vụ cuộc sống. Ngân sách nhà nước cho khoa học công nghệ trong giai đoạn này cần ưu tiên cho việc khai thác và thương mại hóa những gì đã có, song song với tiếp tục đầu tư nghiên cứu mới.

Trong giai đoạn từ một đến năm năm, trọng tâm chuyển sang làm chủ và phát triển công nghệ gắn với lợi thế cấu trúc lâu dài của đất nước. Bên cạnh các hướng phổ quát như trí tuệ nhân tạo và bán dẫn, Viện Hàn lâm tập trung vào làm chủ chuỗi chế biến sâu đất hiếm và khoáng sản chiến lược; phát triển công nghệ vũ trụ và UAV phục vụ bảo vệ chủ quyền và quản lý tài nguyên; y sinh và dược liệu bản địa; ứng dụng công nghệ cao vào nông nghiệp, chăn nuôi và thủy sản; và công nghệ phục vụ sinh kế rừng, kinh tế rừng bền vững. Phấn đấu đến năm 2030, Viện Hàn lâm hướng tới vị trí hàng đầu châu Á trong một số lĩnh vực nghiên cứu ưu tiên, tập trung tạo ra những điểm nhọn thực sự.

Từ năm đến mười năm trở đi, cần đầu tư có chiều sâu cho nghiên cứu cơ bản, nguồn lực tạo ra bứt phá thực sự cho thập kỷ tiếp theo. Không có quốc gia nào thực sự mạnh về khoa học công nghệ mà lại bỏ qua nền tảng này. Hướng tới năm 2045, khi Việt Nam đặt mục tiêu trở thành nước phát triển, nền khoa học Việt Nam không chỉ tiếp nhận và ứng dụng tri thức của thế giới mà phải đóng góp vào kho tàng tri thức đó. Thế hệ nhà khoa học trẻ hiện nay phải được đào tạo bài bản, được trao quyền và được tin tưởng để dẫn dắt trong 10 đến 15 năm tới. Đó là việc phải làm ngay hôm nay, vì khoa học chỉ phát triển bền vững khi mỗi thế hệ đặt nền cho thế hệ tiếp theo.

Vai trò của Viện Hàn lâm trong lộ trình đó là trụ cột nghiên cứu cơ bản và đầu tàu trong giai đoạn làm chủ và phát triển công nghệ, bảo đảm nền tảng khoa học vững chắc cho tất cả các hướng công nghệ chiến lược, đồng thời là cầu nối giữa tri thức học thuật và nhu cầu ứng dụng thực tiễn. Điều kiện tiên quyết để làm được điều đó là phải có cơ chế điều phối thực sự giữa các bộ, ngành, giữa nhà nước, viện trường, địa phương và doanh nghiệp. Viện Hàn lâm sẵn sàng là đầu mối của cơ chế điều phối đó.

PV: Trân trọng cảm ơn Chủ tịch!


Nhóm PV
Bình luận

Các tin khác

Tin đọc nhiều