Từ những hiện vật đời thường nhìn lại một thời kỳ lịch sử
(ĐCSVN) - Trong công tác sưu tầm tư liệu, hiện vật phục vụ xây dựng Bảo tàng Đảng Cộng sản Việt Nam, bên cạnh những tài liệu gắn với các sự kiện và nhân vật lịch sử tiêu biểu, những hiện vật đời thường của Nhân dân cũng có ý nghĩa đặc biệt, phản ánh sinh động quá trình hiện thực hóa đường lối, chủ trương của Đảng trong đời sống xã hội.
Sinh năm 1949, trưởng thành tại miền Bắc xã hội chủ nghĩa, bà Vũ Thị Phim, nguyên là cán bộ phòng Kỹ thuật, Nhà máy Pin Văn Điển đã trải qua nhiều giai đoạn lịch sử quan trọng của đất nước: thời kỳ khôi phục kinh tế sau hòa bình lập lại năm 1954, xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, kháng chiến chống Mỹ cứu nước, thời kỳ bao cấp và những năm đầu đổi mới. Những giấy khen, giấy chứng nhận, thư từ, thiếp cưới, giấy mừng cưới hay những vật dụng sinh hoạt giản dị được bà và gia đình lưu giữ trong nhiều thập niên đã trở thành chứng tích sống động phản ánh đời sống xã hội Việt Nam trong nửa sau thế kỷ XX. Trân trọng trao lại bộ sưu tập tư liệu, hiện vật quý giá của mình cho phòng Nghiên cứu Bảo tàng, Cục Quản trị, Văn phòng Trung ương Đảng, bà Phim như sống lại từng thời kỳ lịch sử của từng hiện vật.

Văn phòng Trung ương Đảng.
Giáo dục và nâng cao dân trí trong những năm đầu xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc
Nhóm hiện vật sớm nhất trong bộ sưu tập tài liệu của bà Vũ Thị Phim là giấy khen năm 1962 ghi nhận thành tích tham gia giảng dạy bổ túc văn hóa và giấy khen năm 1963 dành cho học sinh tham gia lao động giúp hợp tác xã nông nghiệp.
Những hiện vật này phản ánh trực tiếp chủ trương của Đảng về phát triển giáo dục, nâng cao dân trí trong những năm đầu xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc. Sau Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng (1960), cùng với nhiệm vụ phát triển kinh tế và cải tạo xã hội chủ nghĩa, giáo dục được xác định là một lĩnh vực trọng yếu nhằm nâng cao trình độ văn hóa của Nhân dân và xây dựng nguồn nhân lực cho công cuộc kiến thiết đất nước.
Ký ức của bà Phim đưa bà trở về những lớp học bổ túc văn hóa giản dị được tổ chức ngay trong khu dân cư. Khi ấy, lớp học không có bảng hay bàn ghế như bây giờ; người học tự mang ghế đẩu đến, còn người dạy viết chữ lên mẹt hoặc mâm để giảng bài. Dù học viên chủ yếu là người lớn tuổi, các lớp học vẫn được tổ chức khá bài bản. Điều đó cho thấy tinh thần ham học và sức lan tỏa mạnh mẽ của phong trào học tập trong xã hội thời bấy giờ.

Tấm giấy khen dành cho học sinh tham gia lao động giúp hợp tác xã nông nghiệp năm 1963 cũng thể hiện rõ nét quan điểm giáo dục trong đường lối giáo dục của Đảng ta được nêu trong Nghị quyết của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng Lao động Việt Nam về nhiệm vụ và đường lối của Đảng trong giai đoạn mới: "Công tác giáo dục phải phục vụ đường lối và nhiệm vụ cách mạng của Đảng, phải kết hợp giáo dục với lao động sản xuất, kết hợp lý luận với thực tế, giáo dục nhà trường với giáo dục của xã hội".
Nhà máy Pin Văn Điển và một thế hệ công nhân miền Bắc
Một phần lớn tài liệu, hiện vật trong bộ sưu tập gắn liền với Nhà máy Pin Văn Điển - nơi bà Vũ Thị Phim công tác từ năm 1965.
Sự ra đời của Nhà máy Pin Văn Điển gắn với quá trình công nghiệp hóa ở miền Bắc sau Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng (1960). Đại hội xác định nhiệm vụ trung tâm của miền Bắc là xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, trong đó phát triển công nghiệp, đào tạo đội ngũ công nhân và cán bộ kỹ thuật là một trong những nhiệm vụ quan trọng. Trong bối cảnh đó, nhiều nhà máy, xí nghiệp được xây dựng nhằm phục vụ sản xuất, cải thiện đời sống nhân dân và tăng cường tiềm lực của hậu phương miền Bắc.
Được thành lập năm 1960 dưới sự hỗ trợ của Trung Quốc, Nhà máy Pin Văn Điển là một trong những cơ sở công nghiệp tiêu biểu của thời kỳ này. Nhà máy sản xuất các loại pin phục vụ nhu cầu dân sinh, sản xuất và góp phần bảo đảm nguồn điện cho hệ thống thông tin liên lạc trong những năm kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Cũng như nhiều nhà máy quốc doanh khác, đây không chỉ là nơi làm việc mà còn là môi trường học tập, sinh hoạt tập thể, tham gia các phong trào thi đua lao động và hoạt động đoàn thể của công nhân.
“Nắng ấm của một mùa xuân thắng lợi đang tràn về. Thư anh đến với em giữa lúc toàn nhà máy đang sôi nổi “Báo công, lập công-chống Mỹ cứu nước”. Không khí tràn ngập những niềm vui-em cảm thấy chiều nay đẹp quá, đẹp hơn tất cả những buổi chiều…”[1]
“Anh yêu quý của em, công tác của anh lưu động như vậy, anh có học thêm được văn hóa không? Chúng mình thi đua với nhau anh nhé… Phong trào học tập của nhà máy em rất sôi nổi nên em rất phấn khởi đến lớp…”[2]
“Anh! Hôm thứ Năm 3-8 thấy trời mưa rền rĩ. Em, thầy, mẹ và bé Giang lại ra Văn Điển. Sáng 5-8 em và thầy lên Hà Nội. 13h15 báo động… súng bắn, bom nổ… 13h30 báo yên… phía bên phải cơ khí Hoàng Liệt cháy trụi, phía bên trái xưởng ô tô cứu hỏa, cơ khí thủy lợi, kho thóc Văn Điển-không khác gì nhà máy em bữa 23-7. Giữa đường quốc lộ 4 hố bom lớn, những phi xăng để trên tàu hỏa đổ cháy lung tung…[3]

Những lá thư, giấy tờ công tác và tài liệu đoàn thể còn được lưu giữ cho thấy hình ảnh của một thế hệ công nhân trưởng thành trong hoàn cảnh đất nước vừa xây dựng chủ nghĩa xã hội, vừa tiến hành cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Qua những dòng thư trao đổi giữa đồng nghiệp, bạn bè và người thân, có thể cảm nhận được nhịp sống của lớp công nhân trẻ thời kỳ đó: làm việc trong nhà máy, tham gia các phong trào tập thể, học tập nâng cao trình độ và luôn hướng về nhiệm vụ chung của đất nước.
Quyết nghị kết nạp Đoàn Thanh niên Lao động Việt Nam năm 1967 của bà Vũ Thị Phim là một minh chứng cho quá trình trưởng thành của một công nhân trẻ trong môi trường tập thể. Bên cạnh lao động sản xuất, các phong trào thi đua, học tập văn hóa, hoạt động đoàn thể và phong trào “Ba sẵn sàng” đã góp phần bồi dưỡng lý tưởng, tinh thần trách nhiệm và ý thức cống hiến cho thế hệ thanh niên công nhân thời kỳ này.
Trong ký ức của bà Vũ Thị Phim, niềm tự hào khi được làm việc tại Nhà máy Pin Văn Điển và tham gia sản xuất những sản phẩm phục vụ xã hội luôn hiện diện. Đó cũng là tâm thế phổ biến của nhiều công nhân miền Bắc trong những năm 1960-1970, khi lao động sản xuất không chỉ nhằm tạo ra của cải vật chất mà còn được xem là một phần đóng góp cho cuộc đấu tranh thống nhất đất nước. Chính từ những nhà máy như Pin Văn Điển đã hình thành nên một thế hệ công nhân vừa lao động sản xuất, vừa góp phần bảo đảm hậu phương cho tiền tuyến, trở thành lực lượng quan trọng trong quá trình xây dựng và bảo vệ đất nước.

“Tôi có giấy gọi của Pin Văn Điển và xưởng ô tô “Chiến thắng I”. Tôi liền đi về ngành pin. Tôi xuống đây từ hôm 2/6/1965. Ăn ở tập thể. Học kỹ thuật gồm: chính trị, hóa, lý, chuyên môn trong một tháng. Lương 21đ. Sau đó học và hành 5 tháng nữa, mỗi tháng 27đ. Vị chi là 6 tháng sau đó sẽ xếp lương theo bậc. Hàng ngày sáng ăn cơm-chiều bánh mì. Mỗi tuần nghỉ thứ 6 còn chủ nhật vẫn làm… Bây giờ tôi không còn là một nữ sinh hồn nhiên thơ trẻ, cũng không phải là cô thợ may chăm chỉ, mà đã ở một tầng lớp khác - tầng lớp: Công nhân”[5]
Đời sống thời bao cấp qua lăng kính hiện vật
Nhóm hiện vật về xe đạp, thiếp cưới, giấy mừng cưới và chiếc nồi cưới cùng những lá thư kể về cuộc sống gia đình của bà Vũ Thị Phim, ông Nguyễn Văn Rĩnh những năm 1970 phản ánh sinh động đời sống xã hội Việt Nam trong cơ chế kế hoạch hóa tập trung.
Hai giấy chứng nhận sở hữu xe đạp của vợ chồng bà Phim cho thấy cơ chế phân phối hàng hóa theo tiêu chuẩn được áp dụng phổ biến trong giai đoạn sau chiến tranh. Trong điều kiện nền kinh tế còn nhiều khó khăn, việc được phân phối xe đạp là niềm vui lớn của người lao động. Những hiện vật này góp phần giúp công chúng hôm nay hiểu rõ hơn về một giai đoạn lịch sử đặc biệt của đất nước.
Đặc biệt, bộ hiện vật liên quan đến đám cưới của bà Vũ Thị Phim và ông Nguyễn Văn Rĩnh phản ánh sinh động nếp sống của công nhân đô thị miền Bắc những năm chiến tranh. Đám cưới được tổ chức tại hội trường Nhà máy Pin Văn Điển với sự hỗ trợ của bạn bè, đồng nghiệp và tập thể lao động. Từ những vật dụng đi mượn, những phần quà giản dị đến chiếc nồi cưới còn được lưu giữ đến ngày nay, tất cả cho thấy tinh thần đoàn kết, tương trợ và lối sống tiết kiệm được khuyến khích trong xã hội thời kỳ đó.

Không chỉ là vật dụng sinh hoạt của một gia đình công nhân, chiếc nồi còn gợi nhớ cơ chế phân phối hàng hóa phổ biến ở miền Bắc trước thời kỳ Đổi mới. Trong điều kiện sản xuất còn nhiều khó khăn, nhiều mặt hàng thiết yếu như lương thực, thực phẩm, vải vóc, xe đạp hay đồ gia dụng được phân phối theo tiêu chuẩn và thường gắn với các điều kiện cụ thể của từng đối tượng.
Những lá thư được bà Phim lưu giữ cho thấy rõ hơn đời sống thường nhật của người dân trong giai đoạn này. “Sáng nay em dậy từ tờ mờ đất đi xếp hàng mua thực phẩm. Về xào xáo mãi 12h30 mới được ăn cơm. Có tí thức ăn, người ở nhà lại nhớ tới người đi vắng… Chiều em đi mua dầu, dầu hết phải xách thùng về. Mang túi đi đong gạo, xách túi ra đến cổng mới nhớ ra sổ hết. Tuần vừa rồi làm sáng, chưa đổi được sổ mới, lại về…”[6]
Qua những dòng thư có thể cảm nhận được những khó khăn của đất nước cũng như mỗi người dân trong giai đoạn kiến thiết và xây dựng đất nước, nhưng cũng thấy được sự thích ứng và tinh thần lạc quan của người lao động trong hoàn cảnh kinh tế còn nhiều thiếu thốn.
Từ những giấy khen bổ túc văn hóa đầu những năm 1960, những lá thư của người công nhân trẻ tại Nhà máy Pin Văn Điển, quyết nghị kết nạp Đoàn Thanh niên Lao động Việt Nam, giấy chứng nhận sở hữu xe đạp, đến chiếc nồi nhôm được mua theo tiêu chuẩn phân phối khi kết hôn năm 1970... mỗi hiện vật trong bộ sưu tập của bà Vũ Thị Phim đều mang theo ký ức của một con người và dấu ấn của một thời kỳ lịch sử.
Khi được đặt trong bối cảnh lịch sử chung của đất nước, những hiện vật tưởng chừng bình dị ấy không chỉ kể câu chuyện về cuộc đời của một nữ công nhân miền Bắc, mà còn góp phần tái hiện sinh động diện mạo xã hội Việt Nam trong những năm xây dựng chủ nghĩa xã hội, kháng chiến chống Mỹ cứu nước và thời kỳ bao cấp. Những hiện vật từ lớp học bổ túc văn hóa, nhà máy công nghiệp, tổ chức đoàn thể đến những gian hàng mậu dịch và căn bếp của mỗi gia đình như một nhân chứng thể hiện sự chuyển động của cả một giai đoạn lịch sử qua những trải nghiệm đời thường của người dân.
Đó cũng chính là giá trị đặc biệt của bộ sưu tập: từ những hiện vật nhỏ bé của một cá nhân, giúp thế hệ hôm nay và mai sau hiểu rõ hơn về cuộc sống, tâm tư và khát vọng của một thế hệ đã sống, lao động và cống hiến trong những năm tháng nhiều biến động của đất nước./.
-----------------------
Chú thích
[1] Thư bà Vũ Thị Phim gửi người yêu Nguyễn Văn Rĩnh đầu xuân năm 1968.
[2] Thư bà Vũ Thị Phim gửi người yêu Nguyễn Văn Rĩnh ngày 20 tháng 9 khoảng năm 1968-1969.
[3] Thư bà Vũ Thị Phim gửi chồng Nguyễn Văn Rĩnh ngày 12 tháng 8 năm 1972.
[4] Thư của bà Vũ Thị Phim gửi bạn Nguyễn Văn Rĩnh ngày 18 tháng 6 năm 1965.
[5] Thư bà Vũ Thị Phim gửi chồng Nguyễn Văn Rĩnh ngày 27 tháng 10 năm 1973.





