Bộ trưởng Ngô Văn Tuấn: Không thể tăng trưởng mà không cần FDI
Sáng 24/10, tại phiên thảo luận Tổ 5 (gồm Đoàn ĐBQH TP Quảng Ninh, TP Đà Nẵng và tỉnh Cao Bằng) về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đầu tư, Bộ trưởng Ngô Văn Tuấn nhấn mạnh vai trò quan trọng của vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đối với mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số, đồng thời đề xuất đổi mới chính sách hỗ trợ đầu tư, tăng cường liên kết giữa doanh nghiệp FDI với doanh nghiệp trong nước và nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực.
FDI giữ vai trò quan trọng đối với mục tiêu tăng trưởng

Bộ trưởng Ngô Văn Tuấn nhấn mạnh vai trò của khu vực FDI. Ảnh: Đức Thanh
Theo Bộ trưởng Ngô Văn Tuấn, để thực hiện mục tiêu tăng trưởng hai con số, tổng vốn đầu tư toàn xã hội cần đạt khoảng 40% GDP, hệ số ICOR giảm từ 6,4 xuống 4,5–4,8. Nhu cầu vốn giai đoạn 2026–2030 dự kiến tăng gấp 2,67 lần so với giai đoạn 2021–2025, đặt ra yêu cầu huy động nguồn lực rất lớn, nhất là nguồn vốn từ FDI. Việt Nam không thể đạt mục tiêu tăng trưởng hai con số nếu thiếu vốn FDI.
“Chúng ta có thể tăng trưởng mà không cần FDI được không? Xin thưa rằng câu trả lời rất đơn giản: Không thể!”, Bộ trưởng Ngô Văn Tuấn khẳng định.
Vốn FDI thực hiện trong 9 tháng năm 2026 đạt khoảng 21 tỷ USD; cả năm phấn đấu đạt tối thiểu 30 tỷ USD. Khu vực FDI hiện đóng góp tỷ trọng lớn trong hoạt động xuất nhập khẩu, tiếp tục là nguồn lực quan trọng đối với tăng trưởng kinh tế.
Tuy nhiên, theo Bộ trưởng, thu hút đầu tư không chỉ dừng ở quy mô vốn mà quan trọng hơn là khả năng nâng cao giá trị gia tăng, tiếp nhận công nghệ và thúc đẩy doanh nghiệp trong nước tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu. Thực tế trong lĩnh vực bán dẫn cho thấy mỗi công đoạn có yêu cầu khác nhau về công nghệ, nhân lực và giá trị gia tăng. Vì vậy, Việt Nam cần xác định lộ trình phát triển phù hợp, đồng thời nâng cao năng lực nghiên cứu, đào tạo nguồn nhân lực và phát triển công nghiệp hỗ trợ. Việc chuyển giao công nghệ cũng cần gắn với năng lực tiếp nhận thực tế của doanh nghiệp và các cơ sở nghiên cứu, đào tạo trong nước.

Toàn cảnh Tổ thảo luận số 5. Ảnh: Đức Thanh
Cần nghiên cứu phương thức hỗ trợ đầu tư phù hợp hơn
Bộ trưởng Ngô Văn Tuấn cho biết, cạnh tranh thu hút đầu tư quốc tế ngày càng gay gắt, trong khi việc áp dụng thuế tối thiểu toàn cầu làm giảm hiệu quả của các ưu đãi thuế truyền thống. Do đó, Việt Nam cần nghiên cứu phương thức hỗ trợ đầu tư phù hợp hơn, hướng tới các ngành, lĩnh vực và đối tác có vai trò quan trọng đối với phát triển kinh tế.
Theo Bộ trưởng, cơ chế hỗ trợ cần tập trung vào những mục tiêu cụ thể như phát triển công nghệ cao, thúc đẩy nghiên cứu khoa học, tăng cường liên kết giữa doanh nghiệp FDI với doanh nghiệp trong nước và nâng cao năng lực tham gia chuỗi giá trị. Việc hỗ trợ cần gắn với hiệu quả thực chất, bảo đảm hài hòa lợi ích giữa nhà đầu tư và nền kinh tế Việt Nam.
Tính đến tháng 8/2026, Việt Nam có khoảng 47.796 dự án FDI còn hoạt động, với tổng vốn đăng ký khoảng 561,6 tỷ USD. Quy mô này cho thấy yêu cầu tiếp tục hoàn thiện môi trường đầu tư, đồng thời nâng cao chất lượng hợp tác và hiệu quả lan tỏa của khu vực FDI.
Bộ trưởng cũng lưu ý, việc tăng cường hợp tác với các tập đoàn quốc tế cần đi đôi với nâng cao năng lực của doanh nghiệp nội địa. Khi doanh nghiệp Việt Nam chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu về chất lượng, giá thành và năng lực cung ứng, khả năng tham gia sâu vào chuỗi sản xuất của các tập đoàn lớn sẽ còn hạn chế. Vì vậy, phát triển công nghiệp hỗ trợ và nguồn nhân lực chất lượng cao là những nhiệm vụ cần được quan tâm trong quá trình hoàn thiện chính sách thu hút đầu tư.
Hoàn thiện cơ chế hỗ trợ, tăng cường giám sát thực hiện
Thảo luận về chính sách ưu đãi, hỗ trợ đầu tư đặc biệt, đại biểu Tạ Văn Hạ, Đoàn đại biểu Quốc hội TP. Đà Nẵng đề cập yêu cầu gắn ưu đãi với mục tiêu phát triển công nghệ, công nghiệp hỗ trợ và nâng cao năng lực của doanh nghiệp trong nước.
Đối với lĩnh vực bán dẫn, việc thiết kế chính sách cần tính đến đặc điểm của từng công đoạn trong chuỗi sản xuất, mức độ đóng góp về công nghệ và khả năng phát triển nguồn nhân lực. Cùng với đó, cần chú trọng các điều kiện thúc đẩy doanh nghiệp Việt Nam tham gia chuỗi cung ứng, nâng cao năng lực cạnh tranh và tiếp nhận công nghệ từ các nhà đầu tư nước ngoài.
Về cơ chế thành lập và quản lý quỹ hỗ trợ đầu tư, cần bảo đảm tính linh hoạt trong tổ chức thực hiện, đồng thời tăng cường giám sát, trách nhiệm giải trình và hiệu quả sử dụng nguồn lực.
Liên quan đến thẩm quyền và cơ chế ban hành chính sách ưu đãi, hỗ trợ đầu tư, đại biểu Trần Thị Kim Nhung, Đoàn ĐBQH TP. Quảng Ninh lưu ý yêu cầu bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật, đúng thẩm quyền và ổn định của môi trường đầu tư. Các quy định về sử dụng ngân sách nhà nước, điều khoản chuyển tiếp và thời điểm có hiệu lực cần được rà soát kỹ, tránh phát sinh vướng mắc trong quá trình thực hiện.
Hoàn thiện Luật Đầu tư vì vậy cần gắn yêu cầu thu hút nguồn vốn quốc tế với nâng cao năng lực nội tại của nền kinh tế, tạo điều kiện để doanh nghiệp Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị, qua đó chuyển hóa nguồn vốn đầu tư thành năng lực sản xuất, giá trị gia tăng và sức cạnh tranh bền vững.
Lam Anh


