Sign In

Những đóng góp to lớn của phụ nữ Việt Nam trong Chiến dịch Điện Biên Phủ

22:09 09/04/2024

Phụ nữ các dân tộc tham gia dân công cùng bộ đội công binh làm đường từ Tuần Giáo vào Điện Biên Phủ


Trong Chiến dịch Điện Biên Phủ, chia lửa với chiến trường, phụ nữ ở hậu phương đã vô cùng tích cực lao động sản xuất, chi viện sức người sức của cho tiền tuyến. Không chỉ là hậu phương vững chắc, dòng thác cách mạng đã cuốn các chị đi tới chiến trường. Các chị em không chỉ đảm nhận công tác tiếp vận, cứu thương, làm đường… mà còn trực tiếp cầm súng đánh địch.

Phụ nữ là hậu phương vững chắc


- Tích cực sản xuất, chi viện sức người, sức của cho tiền tuyến
Trong chiến dịch Điện Biên Phủ, hậu phương luôn giữ vai trò rất quan trọng. Hậu phương có ổn định thì mới đảm bảo việc cung cấp mọi nhu cầu cho mặt trận, ổn định tinh thần chiến sĩ ngoài mặt trận. Trong khi hầu hết nam giới được động viên ra tiền tuyến thì mọi công việc ở hậu phương phần lớn do phụ nữ gánh vác. Bất chấp những khó khăn về thiên tai, sự phá hoại và đàn áp của giặc, các chị vẫn bám làng, bám ruộng để tích cực sản xuất.


Chị em phụ nữ cũng tích cực vận động mọi người đóng góp của cải vật chất cho chiến dịch. Có nơi nhân dân cất giấu thóc ngay tại địa phương để cung cấp cho bộ đội và du kích hoạt động ở vùng địch hậu. Các chị em còn tặng quần áo ấm cho người đi dân công. Đặc biệt, chị em phụ nữ vùng Tây Bắc cùng với gia đình đã đóng góp nhiều nhất cho chiến dịch về xe đạp, thuyền bè, voi, ngựa để thồ hàng…


Cùng với đó, các chị em đã động viên chồng con nhập ngũ để chi viện sức người cho tiền tuyến. Từ khu 5 trở ra đã có gần 2.000 gia đình có từ 3-4 quân nhân trở lên. Hàng vạn gia đình có từ 1-2 quân nhân. Một số gia đình có hai, ba con gái và con dâu cùng nhập ngũ. Ở vùng tạm bị chiếm (Hải Phòng, Thái Bình), bất chấp địch o ép mạnh, nhiều phụ nữ vẫn bí mật cùng các đội dân công ra vùng tự do để lên mặt trận Điện Biên Phủ. Nhiều chị em có con nhỏ vẫn tình nguyện đi phục vụ chiến dịch.

 

- Đấu tranh chống địch vận
Đấu tranh chống địch bắt lính, địch vận là một công tác đặc biệt quan trọng trong kháng chiến. Do tình trạng thiếu quân số ngày càng trầm trọng, trong chiến dịch Đông Xuân 1953-1954, địch ra sức thực hiện chính sách "dùng người Việt trị người Việt, lấy chiến tranh nuôi chiến tranh". Chúng đã bắt cả thanh niên dưới 18 tuổi và phụ nữ đi lính và làm mật thám.


Đảng coi công tác đấu tranh chống địch bắt lính là một nhiệm vụ trọng yếu và chỉ thị: Phá kế hoạch bắt lính của địch là một nhiệm vụ quân sự và chính trị quan trọng của ta bên cạnh nhiệm vụ tác chiến. Và những người phụ nữ Việt Nam đã góp phần quan trọng vào thực hiện nhiệm vụ này. Họ vừa bảo vệ bản thân vừa tuyên truyền vận động nhân dân đấu tranh trực diện với địch, bằng nhiều hình thức. Tại Quảng Bình, hàng trăm phụ nữ lăn ra đường cản xe của địch đi bắt lính. Tại Hà Nội, chị em cho con em lẩn tránh hoặc tự gây thương tích để khỏi bị bắt lính; tổ chức từng đoàn gồm các cụ, chị em đang mang thai, có con nhỏ đi đấu tranh cho chồng, con trở về; tổ chức tiếp xúc với tân binh rồi đánh tháo tập thể...


Công tác đấu tranh chống địch bắt lính, địch vận, ngụy vận của chị em góp phần phá tan âm mưu "dùng người Việt trị người Việt" của địch, hạn chế khả năng chúng tăng quân lên Điện Biên Phủ. Trong một báo cáo gửi về Pháp, tướng Nava đã báo cáo rằng: Trong số 16.000 người Việt Nam vừa bắt vào quân đội thì 14.000 đã đào ngũ. Tỷ lệ số lính không phục tùng mệnh lệnh chỉ huy lên tới 90%.


Ngoài ra, phụ nữ hậu phương còn có nhiều hoạt động khác làm suy yếu kẻ địch trên các mặt trận kinh tế, văn hoá ở khắp các vùng đô thị, nông thôn, vùng tự do, vùng tạm bị chiếm. Đó là tổ chức biểu tình, bãi công, bãi khoá; tham gia phá hoại các cơ sở kinh tế của địch; tổ chức tuyên truyền, cổ động nhằm vạch trần âm mưu của địch, khuyếch trương thanh thế của ta... Chị em còn tổ chức những hoạt động nhằm ủng hộ các chiến sĩ Điện Biên Phủ như: quyên góp quà gửi cho bộ đội, lên Điện Biên đón thương binh về chăm sóc...

Phụ nữ xông pha nơi tiền tuyến


- Phá đá, mở đường
Đảng ta nhận định, khó khăn lớn nhất của ta ở Điện Biên Phủ là vấn đề hậu cần, mà chủ yếu là vấn đề đường sá. Nếu đường sá không được giải quyết thì không thể vận chuyển được. Tuy nhiên, Điện Biên Phủ xa hậu phương, địa hình hiểm trở, địch tập trung đánh phá ác liệt các đường giao thông hòng ngăn chặn đường tiếp tế của ta. Đèo Pha Đin là nơi địch ném bom 18 ngày liền, có ngày tới 300 quả bom. Địch thả bom hạng nặng để tiêu huỷ mặt đường, kèm theo là bom nổ chậm vùi sâu dưới đất và hàng trăm quả bom bướm nổ chậm, chạm nhẹ là nổ.


Để để đáp ứng yêu cầu của chiến dịch, cùng với bộ đội, dân công nam, nữ đã tham gia "chiến dịch làm đường" trong điều kiện vô cùng khắc nghiệt của địa hình và thời tiết miền núi. Với khẩu hiệu "bảo vệ giao thông tuyệt đối", các chị em dũng cảm làm việc ngay cạnh những quả bom nổ chậm, chống lầy, phá bom, đắp đường sạt lở, bắc cầu… Không chỉ đấu tranh với bom đạn của địch, các chị em còn phải đương đầu với thiên nhiên như mưa lũ, muỗi rừng, đói rét... Nhưng dù trong bất cứ hoàn cảnh nào, chị em vẫn không lùi bước.


Trên khắp các tuyến đường giao thông quan trọng tới Điện Biên Phủ, hàng nghìn phụ nữ gồm cả người Kinh, người Tày, người Mường, người Thái, người Mông hăng hái tham gia chiến dịch làm đường. Nhờ đó, mạng lưới đường chiến lược gồm cả các bến vượt sông, các bến phà dự bị đến Điện Biên Phủ đều được mở rộng và sửa chữa tạo điều kiện thuận lợi để gạo và đạn dược đến được khu tập kết.


Tại đèo Lũng Lô, phà Tạ Khoa, ngã ba Cò Nòi, đèo Pha Đin... anh, chị em dân công túc trực ngày đêm để đảm bảo giao thông thông suốt. Vì vậy, trong cả chiến dịch kéo dài, địch thả khoảng 6.000 tấn bom lên trung tuyến, nhưng chỉ có sáu, bảy ngày đêm xe bị tắc. Trong chiến dịch Điện Biên Phủ, phụ nữ đã góp trên 2 triệu ngày công, chiếm 50% số ngày công phục vụ toàn chiến dịch.

 

- Tiếp vận, cứu thương và nuôi dưỡng thương binh
Ngoài phụ nữ trong các binh chủng quân đội, trên khắp các tuyến cung cấp và hoả tuyến, phụ nữ đều có mặt. Họ làm cả những công việc nặng nhọc trong điều kiện bom đạn nguy hiểm để vận chuyển lương thực, thực phẩm, đạn dược cho bộ đội; tải thương; nuôi dưỡng thương binh và làm cấp dưỡng...


Tại tuyến vận tải thuỷ khó khăn nhất là Nậm Na, nhiều nữ dân công miền xuôi, vốn chưa quen với sông nước đã cố gắng rèn luyện để điều khiển mảng chuyển lương một cách thành thạo. Tại hỏa tuyến, phụ nữ trèo đèo, lội suối vác đạn pháo 105 ly vào các trận địa. Có chị bị bom na-pan làm cháy cả mái tóc vẫn lao mình vào cứu các hòm đạn. Những phụ nữ làm công tác tải thương cũng hết lòng vì thương binh, sẵn sàng nhường áo mưa, áo bông cho thương binh lúc trời giá rét... Nhiều chị đã hy sinh trong khi phục vụ chiến dịch.


Phụ nữ các dân tộc Tây Bắc là một trong những lực lựợng có đóng góp to lớn cho chiến dịch. Do quen địa hình nên chị em đã làm tốt công tác dẫn đường; cùng với bộ đội, dân công ngày đêm vượt suối băng rừng để tiếp vận, dựng lán, làm hầm cho thương binh, đào hào chống xe tăng địch.


Nhờ có sự đóng góp to lớn của phụ nữ mà trong suốt thời gian dài chiến dịch, bộ đội được ăn đủ tiêu chuẩn, thương binh được đưa kịp thời về hậu phương và được chăm sóc chu đáo.

 

- Trực tiếp chiến đấu tiêu diệt sinh lực địch
 Bước vào đông xuân 1953-1954, địch phải tập trung đối phó với ta ở Điện Biên Phủ nên ở nhiều nơi khác chúng bị sơ hở. Nhân đó, chiến tranh du kích của ta có điều kiện phát triển mạnh, nhằm tiêu hao sinh lực địch, kìm giữ lực lượng địch tăng cường cho Điện Biên Phủ.


Chỉ tính từ 1951-1954, có gần 1 triệu chị em tham gia dân quân du kích. Nữ du kích đã tham gia nhiều trận đánh, phối hợp với bộ đội chủ lực phá đường giao thông, uy hiếp nhiều vị trí của địch. Cùng bộ đội và dân quân du kích tấn công liên tục trên khắp các vùng xung yếu; tham gia nhiều trận đánh, tiêu diệt nhiều vị trí địch ở Hà Nam, Hưng Yên, Bắc Ninh; bức địch bỏ hàng loạt vị trí quan trọng ở Bắc Giang, Thái Bình, Hải Dương, Hà Đông; mở rộng các khu căn cứ của ta ở tả ngạn, hữu ngạn sông Hồng. Đường số 5, yết hầu của địch ở đồng bằng Bắc Bộ đã bị quân ta phục kích, đánh đổ nhiều đoàn tàu và kìm chân 14 tiểu đoàn địch.


Nhiều nơi chị em phụ nữ cùng với nhân dân và bộ đội bao vây đồn bốt, chống càn rất anh dũng. Ở Hà Nội, du kích xã Long Biên dùng bãi sông Bồng Lai, Hạ Trại làm căn cứ, chịu đựng thiếu thốn đào hầm nguỵ trang, đánh địch, thăm dò địch giúp cán bộ hoạt động. Hay nhờ kiên trì bám trụ mà đến tháng 4/1954, du kích Gia Lâm trở thành chỗ dựa cho bộ đội chủ lực đánh phá 18 máy bay địch ở sân bay Gia Lâm...

 

 "Các ông đã thắng là vì các ông có dân, không những nam giới mà cả phụ nữ cũng có mặt ở tiền tuyến" - Quan năm Pháp Lơ Pagiơ, chỉ huy binh đoàn Thất Khê sau chiến dịch Biên giới đã phải thừa nhận như vậy.

 

Với những đóng góp to lớn cả ở tiền tuyến và hậu phương, có thể khẳng định, phụ nữ đã đóng vai trò cực kỳ quan trọng vào chiến thắng Điện Biên Phủ "lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu"./.

 

Theo TTXVN

Tag:

File đính kèm