Cổng thông tin điện tử Đảng Cộng Sản Việt Nam
Lào Cai
A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Phát huy nội lực trong phát triển bền vững vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi tỉnh Lào Cai

Qua hơn 20 năm thực hiện Nghị quyết số 24-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX và triển khai Kết luận số 65-KL/TW của Bộ Chính trị, công tác dân tộc trên địa bàn tỉnh Lào Cai đã đạt nhiều kết quả quan trọng. Diện mạo vùng cao từng bước đổi mới, đời sống đồng bào được cải thiện, khối đại đoàn kết toàn dân tộc tiếp tục được củng cố. Từ những chuyển biến thực tiễn, yêu cầu đặt ra trong giai đoạn mới là nâng cao chất lượng thực hiện chính sách, phát huy vai trò chủ thể của đồng bào, gắn giảm nghèo với phát triển sinh kế và nâng cao năng lực tự chủ của người dân.

Đưa chủ trương của Đảng vào thực tiễn vùng cao

Lào Cai là tỉnh miền núi, biên giới, có hơn 180 km đường biên giới tiếp giáp tỉnh Vân Nam, Trung Quốc. Trên địa bàn có hơn 1,1 triệu người dân tộc thiểu số, với nhiều giá trị văn hóa đặc sắc, kinh nghiệm sản xuất và truyền thống đoàn kết gắn bó. Đồng bào vừa là lực lượng quan trọng trong phát triển nông nghiệp, lâm nghiệp, du lịch cộng đồng, vừa trực tiếp tham gia giữ gìn an ninh, trật tự, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới quốc gia.

Điều kiện tự nhiên tạo cho tỉnh nhiều tiềm năng phát triển, nhưng cũng đặt ra những khó khăn đặc thù. Địa hình chia cắt, dân cư phân tán làm tăng chi phí đầu tư hạ tầng, sản xuất và giao thương. Ở một số địa bàn, người dân còn thiếu đất sản xuất, nước sinh hoạt, việc làm ổn định; khả năng tiếp cận thị trường và dịch vụ xã hội cơ bản còn hạn chế. Vì vậy, thực hiện chính sách dân tộc có ý nghĩa trực tiếp đối với việc nâng cao đời sống Nhân dân, thu hẹp khoảng cách phát triển và củng cố nền tảng chính trị - xã hội của địa phương.

Quán triệt Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày 12/3/2003 về công tác dân tộc và Kết luận số 65-KL/TW ngày 30/10/2019 về tiếp tục thực hiện Nghị quyết trong tình hình mới, các cấp ủy, tổ chức đảng đã gắn công tác dân tộc với nhiệm vụ phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh. Chủ trương của Trung ương được cụ thể hóa thành các chương trình, đề án, kế hoạch và chính sách phù hợp với điều kiện miền núi, biên giới; ưu tiên các xã, thôn đặc biệt khó khăn và những nhu cầu thiết yếu của đồng bào.

Từ các chương trình hỗ trợ đất ở, nhà ở, phát triển sản xuất, đầu tư hạ tầng đến các chương trình mục tiêu quốc gia, nguồn lực từng bước được tập trung cho vùng khó khăn. Công tác kiểm tra, giám sát, sơ kết, tổng kết được quan tâm nhằm phát hiện vướng mắc, điều chỉnh cách tổ chức thực hiện. Việc phối hợp giữa cơ quan chuyên môn, chính quyền cơ sở, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội góp phần đưa chính sách đến gần người dân hơn.

Cùng với đầu tư nguồn lực, tỉnh chú trọng tuyên truyền bằng hình thức phù hợp với ngôn ngữ, phong tục, điều kiện tiếp nhận thông tin của từng cộng đồng. Sinh hoạt thôn, bản, truyền thanh cơ sở, báo chí, hoạt động văn hóa và tiếng nói của người có uy tín trở thành những kênh vận động thiết thực. Qua đó, đồng bào hiểu rõ hơn quyền lợi, trách nhiệm, tích cực tham gia phát triển sản xuất, xây dựng nông thôn mới và giữ gìn an ninh, trật tự. Chính sự đồng thuận, tham gia của người dân là điều kiện quan trọng để chủ trương của Đảng được thực hiện hiệu quả ở cơ sở.

Bí thư Tỉnh ủy Lào Cai Dương Quốc Huy cùng bà con tham gia buổi ra quân làm đường giao thông nông thôn

Những chuyển biến từ hạ tầng đến sinh kế và chất lượng cuộc sống

Kết quả dễ nhận thấy trong thực hiện chính sách dân tộc là sự cải thiện điều kiện đi lại, sinh hoạt và sản xuất. Giai đoạn 2021–2025, toàn tỉnh đã triển khai cứng hóa khoảng 6.018,9 km đường giao thông nông thôn. Hệ thống giao thông được đầu tư giúp kết nối các địa bàn vùng cao, tạo thuận lợi cho vận chuyển nông sản, giao thương, phát triển du lịch và tiếp cận trường học, cơ sở y tế. Đường giao thông được mở rộng cũng tạo thêm điều kiện để người dân tiếp cận kỹ thuật, thông tin thị trường và những phương thức sản xuất mới.

Đến hết năm 2025, lưới điện quốc gia đã phủ đến toàn bộ xã, phường; tỷ lệ hộ được sử dụng điện toàn tỉnh đạt 98,28%. Trường học, cơ sở y tế, công trình nước sinh hoạt, thủy lợi và thiết chế văn hóa tiếp tục được xây dựng, nâng cấp. Những kết quả này từng bước khắc phục các thiếu hụt về điều kiện sống, tạo nền tảng để phát triển sản xuất và nâng cao chất lượng các dịch vụ thiết yếu tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.

Nguồn lực từ Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi có vai trò quan trọng trong quá trình đó. Tổng nguồn vốn ngân sách Trung ương thực hiện Chương trình giai đoạn 2021–2025 trên địa bàn tỉnh là hơn 6.309 tỷ đồng; đến ngày 30/9/2026 đã giải ngân khoảng 85,96% kế hoạch vốn được giao. Nguồn lực được triển khai cho nhiều nội dung, từ hạ tầng, ổn định dân cư đến hỗ trợ sản xuất, giáo dục, chăm sóc sức khỏe và bảo tồn văn hóa, góp phần giải quyết đồng thời những nhu cầu của người dân vùng khó khăn.

Trên nền tảng hạ tầng được cải thiện, sản xuất từng bước chuyển dịch theo hướng khai thác lợi thế của từng địa bàn. Các vùng chè, quế, dược liệu, chuối, dứa, rau trái vụ, cây ăn quả ôn đới và chăn nuôi gia súc hàng hóa tạo thêm cơ hội nâng cao thu nhập. Việc phát triển hợp tác xã, tổ hợp tác, sản phẩm OCOP và liên kết sản xuất, chế biến, tiêu thụ góp phần đưa nông sản địa phương tiếp cận thị trường. Đồng bào có thêm điều kiện tham gia sản xuất hàng hóa, từng bước thay đổi tập quán canh tác và nâng cao hiệu quả sử dụng đất.

Du lịch cộng đồng, du lịch sinh thái gắn với văn hóa dân tộc cũng mở ra hướng phát triển sinh kế phù hợp. Tại các địa bàn có lợi thế về cảnh quan, bản sắc và nghề truyền thống, hoạt động du lịch tạo thêm việc làm trong lưu trú, ẩm thực, hướng dẫn, vận chuyển và tiêu thụ sản phẩm địa phương. Mối liên hệ giữa bảo tồn văn hóa với phát triển kinh tế ngày càng rõ hơn, giúp người dân nhận thấy giá trị của việc giữ gìn không gian sống, cảnh quan và tri thức truyền thống.

Các chính sách tín dụng ưu đãi, hỗ trợ sản xuất, đào tạo nghề, giáo dục, y tế, nhà ở được triển khai cùng với đầu tư hạ tầng, góp phần cải thiện đời sống và giảm nghèo. Công tác hỗ trợ nhà ở cho hộ nghèo, hộ cận nghèo, gia đình chính sách và các hộ bị ảnh hưởng bởi thiên tai đã giúp nhiều gia đình có nơi ở an toàn hơn, ổn định cuộc sống. Việc bố trí, sắp xếp dân cư gắn với phòng, chống thiên tai tiếp tục được quan tâm, từng bước tạo điều kiện để người dân an cư và phát triển sinh kế lâu dài.

Những chuyển biến còn thể hiện ở cơ hội học tập và chăm sóc sức khỏe. Mạng lưới trường, lớp, nhất là hệ thống trường phổ thông dân tộc nội trú, bán trú được củng cố; chính sách hỗ trợ học sinh dân tộc thiểu số được chú trọng thực hiện. Đào tạo nghề từng bước gắn với việc làm, giúp lao động có thêm lựa chọn làm việc tại doanh nghiệp hoặc phát triển sản xuất tại địa phương. Mạng lưới y tế cơ sở, các hoạt động phòng bệnh, chăm sóc sức khỏe bà mẹ, trẻ em, dinh dưỡng và bảo hiểm y tế góp phần nâng cao khả năng tiếp cận dịch vụ của đồng bào.

Trong lĩnh vực văn hóa, nhiều lễ hội, làn điệu dân ca, nghề thủ công, trang phục và tri thức dân gian được quan tâm bảo tồn, phục dựng, truyền dạy. Công tác vận động thực hiện nếp sống văn minh, phòng, chống tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống được triển khai gắn với sinh hoạt cộng đồng. Vai trò của phụ nữ, người có uy tín và các cá nhân tiêu biểu được phát huy trong phát triển kinh tế, hòa giải, bảo tồn văn hóa và xây dựng đời sống mới. Những kết quả đó cho thấy công tác dân tộc có tác động trên nhiều mặt, từ điều kiện vật chất đến năng lực tham gia phát triển và đời sống tinh thần của người dân.

Củng cố niềm tin và phát huy vai trò chủ thể của đồng bào

Thực tiễn ở Lào Cai cho thấy, hiệu quả chính sách dân tộc gắn chặt với mối quan hệ giữa cấp ủy, chính quyền và Nhân dân. Khi nhu cầu chính đáng được lắng nghe, chính sách được thực hiện công khai, kịp thời, người dân có thêm niềm tin và động lực tham gia công việc chung. Việc vận động đồng bào đóng góp công sức xây dựng hạ tầng, phát triển sản xuất, giữ gìn môi trường và bảo vệ an ninh, trật tự vì thế có cơ sở thực chất hơn.

Người có uy tín là cầu nối quan trọng trong mối quan hệ đó. Bằng sự am hiểu phong tục, ngôn ngữ và uy tín trong cộng đồng, đội ngũ này đã góp phần giải thích chính sách, phản ánh tâm tư, nguyện vọng, hòa giải mâu thuẫn và vận động đồng bào chấp hành pháp luật. Trong bối cảnh chuyển đổi số, người có uy tín và lực lượng nòng cốt ở cơ sở còn tham gia hỗ trợ người dân tiếp cận dịch vụ công trực tuyến, tài khoản định danh điện tử và các giao dịch số thiết yếu.

Ở khu vực biên giới, sự gắn bó của đồng bào với nơi cư trú, cùng tinh thần trách nhiệm trong bảo vệ đường biên, mốc giới có ý nghĩa quan trọng đối với giữ vững chủ quyền và an ninh quốc gia. Phát triển kinh tế - xã hội được kết hợp với củng cố quốc phòng, an ninh, xây dựng hệ thống chính trị cơ sở và tăng cường đối ngoại nhân dân. Đời sống ổn định, cộng đồng đoàn kết là cơ sở để xây dựng khu vực biên giới hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển.

Một kinh nghiệm xuyên suốt là phải phát huy vai trò chủ thể của đồng bào trong toàn bộ quá trình thực hiện chính sách. Việc lựa chọn công trình, mô hình sản xuất hay hình thức hỗ trợ cần xuất phát từ nhu cầu, khả năng và điều kiện cụ thể của người dân. Khi được tham gia bàn bạc, thực hiện, quản lý và giám sát, đồng bào có điều kiện sử dụng hiệu quả nguồn hỗ trợ, duy trì kết quả và chủ động vươn lên. Cách làm này cũng giúp hạn chế đầu tư thiếu phù hợp, tăng trách nhiệm của cơ quan thực hiện và cộng đồng thụ hưởng.

Công an tỉnh Lào Cai tuyên truyền, bổ phiến pháp luật cho đồng bào dân tộc thiểu số

Những vấn đề cần giải quyết để phát triển bền vững

Bên cạnh kết quả đạt được, phát triển vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi vẫn còn những khó khăn cần nhìn nhận đầy đủ. Sản xuất ở nhiều nơi còn nhỏ lẻ; liên kết với doanh nghiệp, thị trường chưa chặt chẽ; một số mô hình hỗ trợ sinh kế chưa có khả năng nhân rộng. Thu nhập của một bộ phận người dân còn phụ thuộc nhiều vào nông nghiệp, dễ bị ảnh hưởng bởi thiên tai, dịch bệnh và biến động giá cả. Vì vậy, kết quả giảm nghèo cần tiếp tục được củng cố bằng việc làm và nguồn thu nhập ổn định.

Hạ tầng ở một số thôn, bản còn thiếu, chưa đồng bộ; công tác duy tu, bảo dưỡng sau đầu tư còn khó khăn. Chất lượng giáo dục, đào tạo nghề, chăm sóc sức khỏe và kỹ năng lao động chưa đồng đều giữa các địa bàn. Một số giá trị văn hóa có nguy cơ mai một; việc xóa bỏ tập quán không còn phù hợp cần sự kiên trì và cách vận động sát từng cộng đồng. Thiên tai, biến đổi khí hậu tiếp tục đặt ra yêu cầu cao hơn về an toàn dân cư, bảo vệ rừng, nguồn nước và sinh kế.

Trong tổ chức thực hiện, việc phối hợp, lồng ghép nguồn lực có lúc chưa đồng bộ; một số quy định về đối tượng, điều kiện và mức hỗ trợ chưa sát thực tiễn miền núi. Tiến độ giải ngân vốn sự nghiệp còn chậm hơn vốn đầu tư phát triển. Năng lực tham mưu, triển khai chương trình ở một bộ phận cán bộ cơ sở chưa đáp ứng yêu cầu. Những hạn chế này đòi hỏi phải tiếp tục hoàn thiện hướng dẫn, phân công trách nhiệm và tăng cường hỗ trợ cơ sở giải quyết vướng mắc.

Đáng chú ý, đánh giá chính sách cần quan tâm đầy đủ hơn đến tác động đối với đời sống người dân. Số công trình hoàn thành, số hộ được hỗ trợ và tỷ lệ giải ngân là các thông tin cần thiết, nhưng phải được xem xét cùng mức cải thiện thu nhập, khả năng duy trì sinh kế, chất lượng dịch vụ và nguy cơ tái nghèo. Theo dõi được những thay đổi đó sẽ giúp lựa chọn đúng ưu tiên, điều chỉnh cách hỗ trợ và nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực.

Nâng cao chất lượng chính sách gắn với phát huy nội lực trong giai đoạn mới

Trên cơ sở những kết quả và kinh nghiệm thực tiễn, công tác dân tộc của tỉnh cần tiếp tục hướng tới phát triển toàn diện, nâng cao thu nhập, chất lượng cuộc sống và khả năng tiếp cận bình đẳng các dịch vụ xã hội cơ bản. Phát huy nội lực của đồng bào phải gắn với trách nhiệm đầu tư, hỗ trợ của Nhà nước, sự tham gia của doanh nghiệp và cộng đồng; ưu tiên địa bàn đặc biệt khó khăn, vùng cao, vùng biên giới và các nhóm yếu thế.

Trước hết, tiếp tục nâng cao trách nhiệm của cấp ủy, chính quyền đối với công tác dân tộc; đưa các nhiệm vụ vào chương trình, kế hoạch phát triển của từng địa phương. Trong điều kiện vận hành chính quyền địa phương hai cấp, cần làm rõ đầu mối, thẩm quyền, trách nhiệm phối hợp và kết quả phải đạt; bảo đảm việc thực hiện chính sách liên tục, kịp thời. Cùng với đào tạo, bồi dưỡng cán bộ người dân tộc thiểu số, cần tăng cường kỹ năng quản lý chương trình, dự án, vận động Nhân dân và giải quyết công việc tại cơ sở.

Đối với phát triển kinh tế, trọng tâm là tạo sinh kế có khả năng duy trì và nâng cao thu nhập. Hỗ trợ sản xuất cần gắn với điều kiện đất đai, lao động, kỹ thuật, thị trường và phương án tiêu thụ; đào tạo nghề gắn với nhu cầu việc làm cụ thể. Khuyến khích hợp tác xã, doanh nghiệp liên kết với người dân trong chế biến, xây dựng thương hiệu và phát triển chuỗi giá trị. Đồng thời, tiếp tục bảo đảm an sinh và hỗ trợ phù hợp cho những người chưa có khả năng tự tạo sinh kế.

Nguồn lực đầu tư cần tập trung giải quyết các thiếu hụt thiết yếu và tạo kết nối phát triển. Ưu tiên giao thông, điện, nước sinh hoạt, trường học, cơ sở y tế và viễn thông tại những địa bàn còn khó khăn; gắn xây dựng công trình với vận hành, duy tu và khả năng sử dụng thực tế. Việc bố trí dân cư cần đồng thời tính đến an toàn trước thiên tai, đất sản xuất và việc làm. Công khai nhu cầu, phương án phân bổ và kết quả thực hiện để người dân tham gia giám sát, hạn chế đầu tư dàn trải, chồng chéo.

Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực phải được thực hiện lâu dài, từ chăm lo giáo dục, dinh dưỡng, sức khỏe đến đào tạo kỹ năng nghề và kỹ năng số. Củng cố trường nội trú, bán trú, tạo điều kiện duy trì việc học của học sinh vùng khó khăn; nâng cao chất lượng y tế cơ sở và chăm sóc sức khỏe ban đầu. Hỗ trợ đồng bào tiếp cận thông tin thị trường, thương mại điện tử và dịch vụ công cần đi cùng hướng dẫn sử dụng, phù hợp với khả năng của từng nhóm dân cư.

Bảo tồn văn hóa cần gắn với sự tham gia và lợi ích của cộng đồng. Khuyến khích truyền dạy tiếng nói, chữ viết, dân ca, dân vũ, nghề truyền thống; phát triển du lịch phù hợp với cảnh quan và không gian văn hóa địa phương. Cùng với đó, bảo vệ rừng, quản lý tài nguyên, chủ động phòng, chống thiên tai và thích ứng với biến đổi khí hậu phải trở thành yêu cầu thường xuyên trong mỗi phương án phát triển. Tiếp tục phát huy vai trò người có uy tín, phụ nữ và lực lượng nòng cốt trong vận động, giám sát, xây dựng cộng đồng đoàn kết, giữ vững quốc phòng, an ninh.

Những chuyển biến qua thực hiện Nghị quyết số 24-NQ/TW và Kết luận số 65-KL/TW là cơ sở để Lào Cai tiếp tục đổi mới công tác dân tộc. Nâng cao hiệu quả chính sách, chăm lo những nhu cầu thiết yếu và tạo điều kiện để đồng bào chủ động phát triển sẽ góp phần củng cố niềm tin, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc. Đó cũng là nền tảng để xây dựng vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi phát triển bền vững, đóng góp vào mục tiêu xây dựng tỉnh Lào Cai phát triển “xanh, hài hòa, bản sắc và hạnh phúc”.


P.V.H.N - Văn phòng Tỉnh ủy Lào Cai
Bình luận

Các tin khác

Tin đọc nhiều