PHÁT TRIỂN NĂNG LƯỢNG ĐỒNG BỘ, BỀN VỮNG – TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG MỚI CHO LÀO CAI
Trong tiến trình phát triển đất nước, năng lượng không chỉ là điều kiện bảo đảm hoạt động sản xuất và đời sống mà còn là một trong những nền tảng quyết định năng lực cạnh tranh của nền kinh tế. Đối với Lào Cai, một tỉnh miền núi, biên giới có tiềm năng thủy điện đáng kể, nhu cầu phát triển công nghiệp, dịch vụ và đô thị ngày càng tăng, vấn đề năng lượng càng có ý nghĩa chiến lược. Phát triển năng lượng phải đồng thời giải quyết nhiều yêu cầu: khai thác hợp lý tiềm năng, bảo đảm khả năng truyền tải và cung ứng điện ổn định, nâng cao hiệu quả sử dụng, giữ gìn môi trường sinh thái và thu hẹp khoảng cách tiếp cận điện giữa các vùng. Đây cũng là cách tiếp cận cần được quán triệt trong triển khai Nghị quyết số 70-NQ/TW ngày 20/8/2025 của Bộ Chính trị về bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.
Điểm cốt lõi của Nghị quyết là đặt an ninh năng lượng trong tổng thể yêu cầu phát triển nhanh và bền vững, gắn bảo đảm nguồn cung với đổi mới mô hình tăng trưởng, ứng dụng khoa học, công nghệ và sử dụng tài nguyên hiệu quả. Với Lào Cai, thực hiện Nghị quyết không đơn thuần là gia tăng số lượng dự án hoặc công suất phát điện. Quan trọng hơn là xây dựng hệ thống năng lượng có tính đồng bộ, có khả năng đáp ứng nhu cầu thực tế của doanh nghiệp và người dân, đồng thời tạo nguồn lực cho ngân sách và mở rộng dư địa phát triển trong dài hạn. Một nhà máy điện được đầu tư nhưng chậm đấu nối sẽ chưa thể phát huy đầy đủ hiệu quả; một khu vực có tiềm năng thu hút đầu tư nhưng thiếu điện ổn định sẽ khó hình thành năng lực sản xuất mới; một thôn bản chưa có điện lưới vẫn phải chịu nhiều thiệt thòi trong tiếp cận dịch vụ thiết yếu. Những vấn đề ấy cho thấy chất lượng phát triển năng lượng phải được đo bằng hiệu quả tổng hợp, chứ không chỉ bằng công suất lắp đặt.
Nhận thức rõ ý nghĩa đó, Tỉnh ủy và UBND tỉnh đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo triển khai Nghị quyết số 70-NQ/TW gắn với Kế hoạch số 06-KH/TU của Tỉnh ủy và Kế hoạch số 147/KH-UBND của UBND tỉnh. Công tác học tập, quán triệt được thực hiện bằng nhiều hình thức; theo báo cáo kết quả 9 tháng năm 2026, tỷ lệ đảng viên tham gia học tập, quán triệt Nghị quyết đạt trên 95%. Đây là tiền đề quan trọng để thống nhất nhận thức và hành động, nhất là đối với các cơ quan trực tiếp tham mưu quy hoạch, quản lý đầu tư, đất đai, môi trường, phát triển hạ tầng điện và giải quyết thủ tục cho doanh nghiệp. Tuy nhiên, hiệu quả quán triệt phải được thể hiện rõ hơn ở việc xử lý những điểm nghẽn cụ thể, xác định đúng trách nhiệm của từng cấp, từng ngành và tạo chuyển biến có thể kiểm chứng trong thực tiễn.
Nhìn từ kết quả triển khai, Lào Cai đang có cơ sở tương đối quan trọng để phát triển lĩnh vực năng lượng thành một bộ phận có đóng góp lớn cho kinh tế địa phương. Theo báo cáo của Đảng ủy UBND tỉnh, toàn tỉnh có 199 dự án thủy điện với tổng công suất 2.978,05 MW; trong đó 108 dự án đã phát điện, tổng công suất 1.794,05 MW. Các dự án đã vận hành hằng năm cung cấp khoảng 7,9 tỷ kWh, đóng góp trên 8.690 tỷ đồng giá trị sản xuất công nghiệp và trên 1.730 tỷ đồng mỗi năm cho ngân sách. Những con số này phản ánh quy mô và vai trò của thủy điện trong cơ cấu công nghiệp, đồng thời cho thấy năng lượng đã và đang góp phần tạo nguồn thu, thúc đẩy đầu tư và hình thành hạ tầng kỹ thuật trên địa bàn.
Trong 9 tháng đầu năm 2026, báo cáo ghi nhận sản lượng điện phát đạt 5.417 triệu kWh, điện thương phẩm đạt 3.565 triệu kWh. Bên cạnh kết quả sản xuất điện, việc đầu tư, hiện đại hóa hệ thống vận hành tiếp tục có chuyển biến. Đã có 14 trong số 16 trạm biến áp 110 kV vận hành ở chế độ không người trực; lưới điện các cấp 110 kV, 35 kV và 22 kV được giám sát, điều khiển tự động từ trung tâm điều khiển. Điều đó cho thấy quá trình hiện đại hóa ngành điện đang từng bước chuyển từ phương thức quản lý truyền thống sang vận hành dựa trên công nghệ, góp phần nâng cao khả năng giám sát, xử lý sự cố và chất lượng cung cấp điện. Đây là hướng đi cần được tiếp tục đầu tư có trọng tâm, bởi độ tin cậy của hệ thống quan trọng không kém việc mở rộng quy mô nguồn điện.
Cùng với thủy điện, tỉnh đã quan tâm thúc đẩy các loại hình năng lượng khác như điện sinh khối, điện gió, điện mặt trời, điện rác, đồng thời triển khai các công trình lưới điện truyền tải. Việc đa dạng hóa nguồn năng lượng có ý nghĩa trong dài hạn, góp phần giảm sự phụ thuộc vào một loại hình nguồn điện và mở rộng khả năng lựa chọn phương án đầu tư phù hợp với từng khu vực. Tuy vậy, đa dạng hóa không đồng nghĩa với phát triển bằng mọi giá. Mỗi dự án cần được xem xét trên cơ sở quy hoạch, hiệu quả kinh tế, khả năng đấu nối, điều kiện tài nguyên và tác động đến môi trường, cảnh quan, đời sống người dân. Đối với tỉnh có địa hình phức tạp, diện tích rừng lớn và nhiều khu vực nhạy cảm về sinh thái như Lào Cai, yêu cầu này càng phải được đặt ra ngay từ khâu chuẩn bị đầu tư.
Một tín hiệu tích cực khác là sự quan tâm của các nhà đầu tư đối với lĩnh vực năng lượng. Trong danh mục thu hút đầu tư giai đoạn 2026–2030 có 86 dự án năng lượng; đến hết tháng 9/2026, 38 dự án đã có nhà đầu tư nộp hồ sơ đề nghị chấp thuận chủ trương đầu tư đồng thời chấp thuận nhà đầu tư, trong đó 6 dự án đã được chấp thuận chủ trương đầu tư. Kết quả bước đầu cho thấy tiềm năng thu hút nguồn lực xã hội là đáng kể. Song khoảng cách từ sự quan tâm của nhà đầu tư đến một dự án hoàn thành, vận hành hiệu quả vẫn còn dài. Đó là quá trình phải giải quyết đồng bộ thủ tục quy hoạch, đất đai, môi trường, xây dựng, khả năng đấu nối và các điều kiện kỹ thuật liên quan. Nếu một khâu chậm trễ, tiến độ toàn dự án có thể bị ảnh hưởng, làm tăng chi phí và giảm sức hấp dẫn của môi trường đầu tư.
Bảo đảm an ninh năng lượng không chỉ là câu chuyện của các nhà máy và đường dây truyền tải mà còn gắn trực tiếp với chất lượng cuộc sống của nhân dân. Đến thời điểm báo cáo, 100% xã trên địa bàn tỉnh có điện lưới quốc gia, tỷ lệ hộ dân được sử dụng điện lưới quốc gia đạt 98,28%. Đây là kết quả đáng ghi nhận trong điều kiện địa hình miền núi chia cắt, dân cư phân tán và chi phí đầu tư cao. Điện lưới đã góp phần cải thiện điều kiện học tập, chăm sóc sức khỏe, tiếp cận thông tin và phát triển sinh kế. Tuy nhiên, tỷ lệ bao phủ cao ở quy mô toàn tỉnh không có nghĩa mọi địa bàn đã được thụ hưởng như nhau. Một số thôn, bản, cụm dân cư vùng sâu, vùng xa vẫn chưa được cấp điện lưới, đặt ra yêu cầu phải tiếp tục ưu tiên nguồn lực cho những nơi khó khăn nhất.
Cùng với mở rộng tiếp cận điện, việc sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả đã được chú trọng. Theo báo cáo, 100% sở, ban, ngành, đoàn thể và UBND các xã, phường hưởng ứng các phong trào tiết kiệm năng lượng; lượng điện thương phẩm tiết kiệm đạt khoảng 2–5%, hoạt động hưởng ứng Giờ Trái đất hằng năm tiết kiệm khoảng 20.700 kWh. Những kết quả này có ý nghĩa trong việc hình thành ý thức tiết kiệm trong cơ quan, doanh nghiệp và cộng đồng. Tuy nhiên, tiết kiệm năng lượng cần vượt ra ngoài các đợt vận động mang tính thời điểm, trở thành yêu cầu thường xuyên trong quản trị công, sản xuất công nghiệp, hoạt động thương mại và sinh hoạt. Mỗi đơn vị điện năng được sử dụng hiệu quả là một phần chi phí được tiết giảm và một phần áp lực đầu tư nguồn, lưới được hạn chế.
Bên cạnh những kết quả tích cực, thực tiễn triển khai Nghị quyết số 70-NQ/TW cũng cho thấy một số điểm nghẽn có tính chất quyết định. Trước hết là sự thiếu đồng bộ giữa phát triển nguồn điện và hạ tầng truyền tải. Báo cáo chỉ rõ việc đầu tư hệ thống truyền tải còn chậm so với quy hoạch, chưa đáp ứng kịp nhu cầu đấu nối từ các nhà máy điện; có trường hợp nhà máy đã chuẩn bị hoàn thành nhưng chưa có điểm đấu nối. Đây không chỉ là vướng mắc kỹ thuật mà còn là vấn đề hiệu quả sử dụng nguồn lực xã hội. Khi công trình phát điện chưa thể đưa sản phẩm lên lưới, vốn đầu tư bị chậm phát huy tác dụng, doanh nghiệp chịu áp lực tài chính và đóng góp dự kiến cho phát triển kinh tế địa phương cũng bị ảnh hưởng.
Điểm nghẽn thứ hai là nguồn lực dành cho hạ tầng lưới điện, nhất là tại khu vực có phụ tải lớn và vùng nông thôn khó khăn, chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu. Một số khu vực có phụ tải lớn chưa có trạm biến áp 110 kV; trong khi đó, đầu tư điện cho các cụm dân cư thưa thớt, địa hình hiểm trở đòi hỏi chi phí cao, thời gian thi công dài. Nếu chỉ xem xét hiệu quả tài chính trực tiếp, những địa bàn khó khăn rất dễ bị chậm đầu tư. Vì vậy, cần có cách tiếp cận cân bằng giữa mục tiêu kinh tế và mục tiêu an sinh, xác định rõ các dự án cần huy động doanh nghiệp đầu tư và các hạng mục cần ưu tiên hỗ trợ từ nguồn lực công hoặc cơ chế phù hợp theo quy định.
Điểm nghẽn thứ ba nằm ở năng lực quản trị và chuyển đổi số của ngành năng lượng. Hạ tầng công nghệ thông tin, cơ sở dữ liệu chuyên ngành còn thiếu đồng bộ, việc kết nối và khai thác dữ liệu phục vụ quy hoạch, giám sát, vận hành chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu. Đầu tư cho nghiên cứu, đổi mới công nghệ còn hạn chế, trong khi nhân lực chuyên sâu về tự động hóa, công nghệ số và phân tích dữ liệu chưa theo kịp đòi hỏi thực tế. Khi quy mô hệ thống năng lượng tăng lên, nếu quản trị không được hiện đại hóa tương ứng thì khó nâng cao hiệu quả vận hành, dự báo phụ tải và phòng ngừa rủi ro. Do đó, chuyển đổi số cần được xem là một phần cấu thành của phát triển hạ tầng năng lượng, không phải nhiệm vụ bổ trợ thực hiện sau.
Những khó khăn trên có nguyên nhân khách quan từ điều kiện tự nhiên và đặc thù phát triển của Lào Cai. Địa hình chia cắt, phân bố dân cư không đồng đều, tỷ lệ rừng tự nhiên và rừng phòng hộ lớn làm tăng yêu cầu đối với công tác khảo sát, lựa chọn hướng tuyến, sử dụng đất và bảo vệ môi trường. Chi phí đầu tư hạ tầng ở miền núi thường cao, trong khi khả năng huy động nguồn lực của địa phương có giới hạn. Bên cạnh đó, việc tích hợp, đồng bộ giữa quy hoạch ngành quốc gia và quy hoạch tỉnh còn có bất cập, có thể dẫn tới chồng lấn hoặc thiếu thống nhất trong triển khai. Tuy nhiên, cũng cần nhìn nhận yêu cầu nâng cao chất lượng dự báo, chuẩn bị dự án, phối hợp giữa các cơ quan và trách nhiệm giải quyết công việc như những yếu tố chủ quan phải tập trung khắc phục.
Từ kết quả và hạn chế nêu trên, vấn đề đặt ra đối với Lào Cai trong thời gian tới không phải lựa chọn giữa phát triển nguồn điện hay phát triển lưới điện, mà là tổ chức phát triển hai cấu phần này theo một tiến độ thống nhất. Quy hoạch cần đi trước một bước, đồng thời phải có tính khả thi cao. Trong quá trình rà soát, đề xuất cập nhật, bổ sung các dự án nguồn điện và lưới điện vào Quy hoạch tỉnh điều chỉnh giai đoạn 2021–2030, tầm nhìn đến năm 2050, cần đối chiếu chặt chẽ với Quy hoạch điện VIII và Điều chỉnh Quy hoạch điện VIII, làm rõ khả năng đấu nối, nhu cầu sử dụng điện, yêu cầu sử dụng đất và các điều kiện triển khai. Mục tiêu là hạn chế tình trạng nguồn điện hoàn thành trước nhưng lưới truyền tải chưa sẵn sàng, hoặc hạ tầng được đầu tư mà chưa phát huy hết công suất.
Cùng với nâng cao chất lượng quy hoạch, cần đổi mới phương thức theo dõi, đôn đốc các dự án năng lượng. Mỗi dự án trọng điểm phải được nhận diện rõ khó khăn, phân loại vướng mắc thuộc thẩm quyền của tỉnh hay cần phối hợp với cơ quan Trung ương, đơn vị quản lý lưới điện; xác định cơ quan chủ trì, thời hạn xử lý và kết quả phải đạt. Đối với các dự án chậm tiến độ kéo dài, không còn khả năng triển khai, cần kiên quyết xem xét xử lý theo quy định, tránh để nguồn lực và cơ hội đầu tư bị chiếm giữ không hiệu quả. Ngược lại, các nhà đầu tư có năng lực, dự án khả thi và đáp ứng đầy đủ yêu cầu pháp lý cần được hỗ trợ giải quyết thủ tục công khai, minh bạch, đúng thẩm quyền, tạo điều kiện sớm triển khai và vận hành.
Một nhiệm vụ cần ưu tiên là đẩy nhanh tiến độ các công trình lưới điện có vai trò giải tỏa công suất và bảo đảm cấp điện cho khu vực có nhu cầu tăng cao. Phát triển công nghiệp, khai khoáng, chế biến, dịch vụ và đô thị đều cần nguồn điện ổn định với chất lượng ngày càng cao. Vì vậy, đầu tư hạ tầng truyền tải và phân phối phải được đặt trong mối liên hệ với quy hoạch phát triển không gian kinh tế, khu công nghiệp, cụm công nghiệp và các trung tâm dân cư. Việc phối hợp giữa chính quyền địa phương, ngành điện và chủ đầu tư cần được thực hiện từ giai đoạn chuẩn bị dự án, nhất là trong xác định nhu cầu phụ tải, hướng tuyến, vị trí trạm biến áp và phương án giải phóng mặt bằng. Sự chủ động ở khâu này sẽ giảm đáng kể nguy cơ phát sinh vướng mắc khi thi công.
Đối với khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng xa, nhiệm vụ cấp điện cần được xem là một nội dung quan trọng của phát triển bao trùm. Trên cơ sở rà soát chính xác từng thôn, bản và cụm dân cư chưa có điện lưới, tỉnh cần xác định thứ tự ưu tiên, lựa chọn giải pháp kỹ thuật và nguồn vốn phù hợp với điều kiện thực tế. Nơi có điều kiện kéo điện lưới phải tập trung tháo gỡ các vướng mắc về mặt bằng, địa hình và vốn đầu tư; nơi chưa thể triển khai ngay cần nghiên cứu phương án cấp điện phù hợp theo quy định, bảo đảm an toàn và hiệu quả lâu dài. Đích đến không chỉ là tăng tỷ lệ hộ có điện mà còn là nâng cao chất lượng cung cấp điện, phục vụ sản xuất, giáo dục, y tế và đời sống của người dân.
Phát triển năng lượng bền vững cũng đòi hỏi đặt yêu cầu bảo vệ môi trường và sử dụng tài nguyên hợp lý ở vị trí xuyên suốt. Đối với các dự án thủy điện và năng lượng tái tạo, công tác thẩm định, giám sát phải quan tâm đầy đủ đến tác động môi trường, tài nguyên nước, đất rừng, cảnh quan và sinh kế của cộng đồng. Việc lựa chọn dự án không thể chỉ dựa vào công suất dự kiến hoặc quy mô vốn đăng ký mà phải xem xét lợi ích tổng thể trong cả vòng đời đầu tư. Đây là yêu cầu đặc biệt quan trọng đối với một địa phương có giá trị lớn về tài nguyên thiên nhiên, đa dạng sinh học, du lịch và bản sắc văn hóa như Lào Cai. Chỉ khi hài hòa được lợi ích kinh tế với bảo vệ môi trường và quyền lợi chính đáng của người dân, các dự án năng lượng mới có nền tảng phát triển ổn định, lâu dài.
Trong bối cảnh khoa học và công nghệ phát triển nhanh, ngành năng lượng cần đẩy mạnh ứng dụng dữ liệu số, tự động hóa và công nghệ quản lý hiện đại. Việc xây dựng, chuẩn hóa và kết nối cơ sở dữ liệu chuyên ngành phải gắn với nhu cầu thực tế về quản lý quy hoạch, theo dõi dự án, thống kê năng lượng, giám sát vận hành và dự báo nhu cầu sử dụng điện. Các cơ quan quản lý cần phối hợp với đơn vị điện lực, doanh nghiệp và cơ quan chuyên môn để bảo đảm thông tin đầy đủ, nhất quán, có khả năng cập nhật và khai thác. Song song với đầu tư hạ tầng số là đào tạo, bồi dưỡng nhân lực chuyên sâu; chú trọng năng lực phân tích dữ liệu, an toàn hệ thống, vận hành thông minh và quản lý rủi ro. Đầu tư công nghệ chỉ thực sự phát huy hiệu quả khi đi cùng con người có đủ khả năng sử dụng và quản trị.
Một hướng giải pháp không kém phần quan trọng là nâng cao hiệu quả sử dụng năng lượng trong toàn xã hội. Các cơ quan nhà nước cần đi đầu trong quản lý điện năng, sử dụng thiết bị tiết kiệm và xây dựng nếp sống tiết kiệm điện; doanh nghiệp cần từng bước đổi mới dây chuyền, công nghệ sản xuất và tổ chức quản trị năng lượng hiệu quả hơn; người dân được hướng dẫn những giải pháp tiết kiệm phù hợp, dễ thực hiện. Công tác tuyên truyền cần gắn với lợi ích thiết thực về giảm chi phí, nâng cao hiệu quả sản xuất và bảo vệ môi trường, tránh dừng ở khẩu hiệu. Khi tiết kiệm năng lượng trở thành hành vi thường xuyên, hiệu quả bảo đảm an ninh năng lượng sẽ được nâng lên ngay từ phía nhu cầu sử dụng.
Thực hiện Nghị quyết số 70-NQ/TW cũng cần gắn chặt với mục tiêu tăng trưởng kinh tế và chuyển dịch cơ cấu phát triển của tỉnh. Năng lượng ổn định là điều kiện để các dự án công nghiệp hoạt động hiệu quả, thu hút đầu tư mới và nâng cao năng lực cạnh tranh của địa phương. Ngược lại, sự phát triển của công nghiệp và dịch vụ tạo ra nhu cầu sử dụng điện, đòi hỏi ngành năng lượng phải chủ động dự báo và chuẩn bị hạ tầng. Hai quá trình này có quan hệ tác động qua lại, cần được điều hành thống nhất, tránh tư duy quản lý tách rời theo từng ngành. Mỗi quyết định về quy hoạch, đầu tư nguồn điện, đường dây hay trạm biến áp cần được cân nhắc trong tổng thể mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, sử dụng hiệu quả nguồn lực và bảo đảm đời sống nhân dân.
Để các định hướng nêu trên đi vào thực chất, vai trò lãnh đạo của cấp ủy, hiệu lực quản lý của chính quyền và trách nhiệm của người đứng đầu các cơ quan, đơn vị phải được thể hiện bằng kết quả cụ thể. Các sở, ngành liên quan cần chủ động phối hợp, không để hồ sơ kéo dài qua nhiều khâu mà thiếu đầu mối chịu trách nhiệm. Công tác kiểm tra, giám sát cần tập trung vào những dự án, công trình có tác động lớn đến khả năng cung ứng điện, tiến độ giải tỏa công suất và nhiệm vụ cấp điện vùng khó khăn. Việc đánh giá kết quả thực hiện Nghị quyết cần chú trọng những chỉ tiêu phản ánh hiệu quả thực tế như tiến độ hoàn thành dự án, khả năng đấu nối, độ ổn định cung cấp điện, mức độ tiếp cận của người dân và hiệu quả sử dụng năng lượng, thay vì chỉ thống kê số lượng hoạt động triển khai.
Từ tiềm năng, kết quả bước đầu và những vấn đề đang đặt ra có thể khẳng định, Lào Cai có điều kiện để tiếp tục phát triển năng lượng thành lĩnh vực đóng góp quan trọng cho tăng trưởng. Nhưng lợi thế tự nhiên chỉ thực sự trở thành lợi thế phát triển khi được tổ chức khai thác khoa học, có quy hoạch đồng bộ, hạ tầng truyền tải tương xứng, môi trường đầu tư thuận lợi và sự đồng thuận của nhân dân. Thực hiện hiệu quả Nghị quyết số 70-NQ/TW vì thế không chỉ là nhiệm vụ của riêng ngành điện hay cơ quan quản lý năng lượng mà là trách nhiệm chung của cả hệ thống chính trị, cộng đồng doanh nghiệp và toàn xã hội. Với cách làm quyết liệt, trọng tâm, trọng điểm, gắn trách nhiệm với kết quả và đặt lợi ích lâu dài của tỉnh lên hàng đầu, Lào Cai có thể từng bước tháo gỡ các điểm nghẽn, bảo đảm cung ứng năng lượng an toàn, ổn định, bền vững, tạo nền tảng vững chắc cho phát triển kinh tế - xã hội trong giai đoạn mới.


