Để lợi thế rừng keo mang lại giá trị cao hơn cho 1,5 triệu hộ
Ngày 8/10, Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam phối hợp cùng Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam, Tổ chức Nghiên cứu Nông nghiệp Quốc tế Australia (ACIAR), Australian Aid và Liên đoàn các Tổ chức Nghiên cứu Lâm nghiệp Quốc tế (IUFRO) tổ chức Diễn đàn Kết nối Nghiên cứu, Công nghiệp và Đổi mới sáng tạo trong Chuỗi giá trị cây keo bền vững.

Diễn đàn quy tụ hơn 150 đại biểu, 76 báo cáo khoa học đến từ 18 quốc gia vào ba nhóm nội dung: chọn giống và công nghệ sinh học; lâm sinh và quản lý bền vững; sản phẩm, chuỗi giá trị và thị trường. Ảnh: Kiều Chi.
Các ưu tiên nghiên cứu cây keo đến năm 2035
Việt Nam hiện có khoảng 2,5 triệu ha rừng keo, trong tổng số khoảng 3,5 triệu ha trên toàn thế giới. Đây là nguồn nguyên liệu chủ lực của ngành gỗ, gắn liền với sinh kế của khoảng 1,5 triệu hộ gia đình. Nâng cao hiệu quả rừng trồng keo liên quan trực tiếp đến người trồng rừng, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp và giá trị gia tăng của ngành chế biến gỗ, xuất khẩu lâm sản.
Việt Nam bắt đầu phát triển mạnh rừng keo từ những năm 1990, trong đó việc chọn lọc và đưa keo lai vào sản xuất đã tạo bước phát triển mới. Từ năm 2010 đến nay, tư duy từng bước chuyển từ trồng rừng để phủ xanh đất trống sang phát triển rừng gỗ lớn, gắn với nhiều mục đích sử dụng và nâng cao giá trị.
Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Nguyễn Quốc Trị phát biểu tại diễn đàn: "Những kết quả đạt được trong phát triển rừng trồng keo là hành trình đáng tự hào của nhiều thế hệ nhà quản lý, nhà khoa học, doanh nghiệp và người trồng rừng".

Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Nguyễn Quốc Trị phát biểu khai mạc diễn đàn quốc tế về chuỗi giá trị cây keo bền vững. Ảnh: Kiều Chi.
Theo Thứ trưởng, lĩnh vực lâm nghiệp thời gian qua được đầu tư nhiều cho nghiên cứu, với nhiều đề tài, chương trình có khả năng lan tỏa vào thực tiễn sản xuất. Đồng thời, ngành cũng xác định cần thiết kế chế hỗ trợ phù hợp để các hộ trồng rừng nhỏ tham gia quản lý rừng bền vững; thúc đẩy liên kết dài hạn, minh bạch giữa nhà máy và vùng nguyên liệu; đồng thời giải pháp tín dụng, bảo hiểm rừng trồng và các cơ chế khuyến khích đầu tư cho gỗ lớn, chế biến sâu, truy xuất nguồn gốc và nâng cao giá trị toàn chuỗi.
Trên cơ sở các thảo luận tại hội thảo, các nhóm ưu tiên nghiên cứu đến năm 2035 được đặt ra gồm chọn giống đa tính trạng, có khả năng chống chịu; phân hóa tính trạng rừng theo điều kiện lập địa và rủi ro; nâng cao sức khỏe rừng và an toàn sinh học; phát triển chế biến sâu, vật liệu mới và kinh tế tuần hoàn; các vấn đề khác về kinh tế, chính sách, carbon.
Năm 2025, xuất khẩu gỗ và lâm sản của Việt Nam đạt khoảng 17,2 tỷ USD. Tuy nhiên, một tỷ lệ lớn gỗ rừng trồng vẫn được đưa vào sản xuất dăm gỗ và viên gỗ nén.
Theo ông Nguyễn Quốc Khanh, Chủ tịch Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam (VIFOREST): "Giá trị cao nhất được tạo ra ở cuối chuỗi". Ngành gỗ cần chuyển nhiều hơn từ dăm gỗ sang veneer, plywood, MDF, gỗ ghép, cấu kiện và đồ nội thất, những sản phẩm có hàm lượng thiết kế và giá trị gia tăng cao hơn.

Ông Nguyễn Quốc Khanh, Chủ tịch Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam (VIFOREST). Ảnh: Kiều Chi.
Để mỗi mét khối gỗ tạo ra nhiều giá trị hơn, cần có sự tham gia đồng bộ của khoa học, sản xuất, tài chính, thiết kế, thị trường, các yêu cầu về ESG và chính sách. Trong đó, tín dụng phù hợp với chu kỳ dài của cây trồng, cơ chế bảo vệ và bảo hiểm rừng, liên kết dài hạn giữa doanh nghiệp với người trồng rừng, chứng chỉ rừng và tín chỉ carbon.
VIFOREST cũng đề xuất mục tiêu từng bước xây dựng thương hiệu “Vietnamese Acacia”, từ đó đưa cây keo thành vật liệu được thị trường quốc tế nhận biết và lựa chọn, với nguồn gốc rõ ràng, khả năng tái tạo, quản lý có trách nhiệm, sản xuất bền vững và thiết kế phù hợp.
Đầu tư dài hạn cho ngành kinh tế gỗ nguyên liệu
Ông Nicholas Hogarth, Giám đốc Chương trình Lâm nghiệp của ACIAR bày tỏ ấn tượng sau chuyến thăm thực địa tại tỉnh Tuyên Quang trong khuôn khổ hội thảo.
Từ quy mô, liên kết vùng nguyên liệu tới các cơ sở chế biến và sản phẩm xuất khẩu của một số doanh nghiệp và hộ nhỏ có chứng chỉ FSC, cơ sở chế biến gỗ, sản xuất veneer quy mô nhỏ và vừa, nhà máy sản xuất đồ nội thất quy mô lớn. "Điều chúng tôi chứng kiến không đơn thuần là một ngành lâm nghiệp trồng rừng thành công, mà còn là một quá trình chuyển đổi ở khu vực nông thôn", ông nói.

Ông Nicholas Hogarth, Giám đốc Chương trình Lâm nghiệp, Tổ chức Nghiên cứu Nông nghiệp Quốc tế Australia (ACIAR). Ảnh: Kiều Chi.
Trong hơn ba thập kỷ qua, ACIAR đã đầu tư khoảng 28 triệu AUD cho các nghiên cứu liên quan đến lâm nghiệp tại Việt Nam, triển khai 16 dự án cùng các khoản đầu tư cho cơ sở hạ tầng, nghiên cứu và đào tạo. Các chương trình trải rộng từ nguồn gen, cải thiện giống cây, lâm sinh, quản lý đất đến chế biến, gia tăng giá trị và gần đây là chính sách.
Theo ông Nicholas Hogarth, những kết quả của ngành rừng trồng Việt Nam là đóng góp của nhiều tổ chức và đối tác. Đây cũng là cơ sở để các nhà khoa học, cơ quan quản lý, doanh nghiệp và người trồng rừng tiếp tục phối hợp trong nghiên cứu, đổi mới công nghệ, xây dựng cơ chế tài chính và phát triển thị trường, qua đó nâng giá trị của rừng keo và củng cố nền tảng cho ngành gỗ Việt Nam.
Về những thách thức của cây keo, theo báo cáo của Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam, nền tảng di truyền hẹp của rừng trồng keo đang là thách thức trong công tác chọn giống. Rủi ro bão lũ tác động trực tiếp đến sản xuất chu kỳ và hiệu quả kinh tế. Trong khi đó, việc kéo dài chu kỳ rừng cũng đặt ra yêu cầu cao hơn về quản lý đất, sức khỏe rừng và phòng trừ sâu bệnh. |


