Định hình nhiệm vụ công nghệ chiến lược
Từ những lợi thế nổi trội về kinh tế biển, tài nguyên, công nghiệp, du lịch đến yêu cầu quản trị một không gian phát triển rộng và hiện đại, Quảng Ninh xác định những nhiệm vụ trọng tâm trong phát triển công nghệ có khả năng tạo tác động trực tiếp đến phát triển kinh tế - xã hội. Cách tiếp cận mới không dừng ở việc ứng dụng công nghệ có sẵn, mà hướng tới nghiên cứu, làm chủ, tích hợp và tạo ra những sản phẩm công nghệ phù hợp với điều kiện thực tiễn của địa phương.

Khu vực bãi thải của Công ty CP Than Hà Tu được quy hoạch khai thác, sử dụng đất đá thải. Ảnh: Việt Trung (CTV)
Tháng 9/2026, Sở Khoa học và Công nghệ tổ chức cuộc họp “3 nhà” để rà soát, thống nhất đề xuất các nhiệm vụ phát triển công nghệ chiến lược giai đoạn 2026-2030, với sự tham gia của các viện nghiên cứu, trường đại học, doanh nghiệp khoa học và công nghệ cùng các sở, ngành, địa phương. Tại đây, 6 đề xuất tập trung vào những lĩnh vực Quảng Ninh có lợi thế và là những vấn đề đang đặt ra trong quá trình phát triển, gồm: Xây dựng hệ thống quan trắc, dữ liệu và bản sao số trái đất; nền tảng không gian mặt nước thông minh; phát triển chuỗi công nghiệp hàu biển; chuỗi giá trị dược liệu ba kích tím; robot thông minh và hệ thống giám sát tự động trong nuôi trồng thủy sản; chế biến sâu chất thải thành vật liệu xây dựng tiên tiến, vật liệu chức năng phục vụ đô thị bọt biển.
Trong đó, nhiệm vụ về hệ thống quan trắc, dữ liệu và bản sao số Trái đất được kỳ vọng tạo hạ tầng dữ liệu dùng chung phục vụ quản lý, phát triển. Hệ thống với ứng dụng AI sẽ giúp hỗ trợ quản lý tài nguyên, môi trường, phòng chống thiên tai, quy hoạch và điều hành phát triển. Quan trọng hơn, hạ tầng này có thể tiếp tục mở rộng, kết nối với các hệ thống dữ liệu chuyên ngành và cơ sở dữ liệu quốc gia.
Đối với nền tảng "không gian mặt nước thông minh", trước mắt, nhiệm vụ tập trung vào vịnh Hạ Long - Bãi Cháy, nơi có mật độ hoạt động du lịch, vận tải đường thủy và dịch vụ cao, đặt ra yêu cầu lớn về an toàn, cứu hộ, cứu nạn và bảo vệ môi trường. Mục tiêu là hình thành nền tảng số - vật lý dùng chung, kết nối tàu, cảng bến, camera, cảm biến, dữ liệu và phương tiện không người lái. Nền tảng này có thể phục vụ đồng thời quản lý tàu du lịch, cảng bến, tuần tra, quan trắc môi trường, cứu hộ - cứu nạn và từng bước mở rộng tới các khu vực mặt nước khác.

Người dân Vân Đồn chuẩn bị giống hàu để thả nuôi trên vùng biển. Ảnh: Việt Hoa
Ở lĩnh vực kinh tế biển, chuỗi công nghiệp hàu được lựa chọn bởi đây là ngành đã hình thành vùng nguyên liệu và sinh kế tại Quảng Ninh, nhưng giá trị gia tăng còn hạn chế. Bài toán được đặt theo hướng giải quyết toàn bộ chuỗi, từ nguồn gen, chọn tạo và sản xuất giống, quản lý vùng nuôi dựa trên dữ liệu, thu hoạch, bảo quản, truy xuất đến chế biến sâu thịt hàu và chuyển hóa vỏ theo mô hình kinh tế tuần hoàn. Riêng tại Vân Đồn, nhiệm vụ hướng tới xây dựng mô hình vùng nuôi thông minh, chủ động giống và hình thành nhà máy thương mại với công suất thiết kế tối đa 15 tấn thịt hàu/ngày và 200 tấn vỏ/ngày.
Đối với chuỗi giá trị dược liệu ba kích tím, thay vì chỉ mở rộng vùng trồng, nhiệm vụ được định hướng từ nguồn gen, giống, vùng nguyên liệu thông minh đạt chuẩn GACP-WHO đến chuẩn hóa dược liệu, chiết xuất hoạt chất, phát triển sản phẩm và thương mại hóa. Từ đó, nhằm kiểm soát chất lượng nguyên liệu, nâng giá trị sản phẩm và tạo ra chuỗi dược liệu có khả năng cạnh tranh cao hơn. Theo các nhà khoa học và doanh nghiệp, trước mắt ưu tiên các vùng có lợi thế về ba kích tím tại Ba Chẽ, Kỳ Thượng và hướng tới khả năng mở rộng mô hình cho những cây dược liệu đặc hữu khác của Quảng Ninh.
Trong nuôi biển, robot thông minh vệ sinh lưới lồng và hệ thống giám sát tự động ứng dụng AI, IoT lại hướng vào một khâu rất cụ thể nhưng có ý nghĩa trực tiếp đối với quá trình hiện đại hóa sản xuất. Nhiệm vụ hướng tới phát triển robot, thiết bị làm sạch lưới lồng kết hợp hệ thống cảm biến, IoT, AI để thu thập, xử lý dữ liệu và hỗ trợ giám sát quá trình nuôi. Sau khi thử nghiệm tại Quảng Ninh, sản phẩm có khả năng mở rộng cho các vùng nuôi lồng biển khác.
Cùng với khai thác giá trị từ tài nguyên biển và sinh học, một hướng nghiên cứu khác trực tiếp giải quyết "điểm nghẽn" môi trường và đô thị là biến chất thải thành vật liệu xây dựng tiên tiến, vật liệu chức năng cho đô thị bọt biển. Đây là bài toán có tính đặc thù cao đối với Quảng Ninh khi có các dòng chất thải như đất đá thải mỏ, chất thải rắn xây dựng, tro xỉ nhiệt điện, bùn đất nạo vét và phụ phẩm công nghiệp. Thay vì tiếp cận chất thải chủ yếu dưới góc độ xử lý, nhiệm vụ đặt mục tiêu chế biến sâu để tạo ra cốt liệu tái chế, vật liệu thấm nước, vật liệu lọc - giữ - trữ nước và các loại vật liệu phục vụ hạ tầng xanh. Qua đó, mở ra một chuỗi giá trị mới cho công nghiệp vật liệu.
Ông Nguyễn Mạnh Cường, Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ, cho biết: Điểm chung của các đề tài đều xuất phát từ những lợi thế, vấn đề cụ thể của thành phố và đều có khả năng tạo ra những không gian tăng trưởng mới. Sở và các sở, ngành, địa phương cũng xác định mỗi nhiệm vụ phải gắn với kết quả cụ thể, có thể tạo thêm năng lực, sản phẩm, doanh nghiệp, ngành kinh tế hoặc phương thức quản trị mới cho Quảng Ninh. Trên cơ sở đó, Sở chủ động kết nối nhà khoa học, doanh nghiệp với các sở, ngành, địa phương để cùng xác định bài toán, nhu cầu và đầu ra. Cách tổ chức này giúp đề tài khoa học ngay từ đầu đã có địa chỉ ứng dụng, đơn vị tiếp nhận và yêu cầu đầu ra tương đối rõ. Hiện Sở phối hợp với các đơn vị tổ chức hoàn thiện, báo cáo UBND thành phố trình Bộ Khoa học và Công nghệ xem xét phê duyệt để sớm triển khai. Nếu được triển khai theo đúng định hướng này, các nhiệm vụ sẽ tạo ra những “điểm nối” quan trọng giữa khoa học và các động lực tăng trưởng của Quảng Ninh. Đây chính là nền tảng để khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đi sâu hơn vào từng lĩnh vực phát triển, từng bước chuyển lợi thế về tài nguyên, vị trí và không gian của Quảng Ninh thành lợi thế dựa trên tri thức, công nghệ và năng lực làm chủ.


