Ứng dụng công nghệ sinh học nâng cao chất lượng giống dứa tại Thanh Hóa

Giống mô dứa MD2 thành phẩm.
Năm 2025, toàn tỉnh Thanh Hoá có 242.058 ha đất sản xuất nông nghiệp, tổng diện tích gieo trồng đạt 388,8 nghìn ha. Diện tích đất nông nghiệp được tích tụ, tập trung để sản xuất quy mô lớn, ứng dụng công nghệ cao đạt 4.474 ha.
Trong lĩnh vực lâm nghiệp, tỉnh có 647.672,53 ha rừng, trong đó rừng trồng chiếm 254.312 ha, diện tích keo khoảng 102.000 ha.
Cùng với mở rộng quy mô sản xuất, ngành nông nghiệp và môi trường đang từng bước hoàn thiện dữ liệu chuyên ngành, tăng cường kết nối, chia sẻ dữ liệu và tự động hóa báo cáo phục vụ công tác quản lý, điều hành. Đây là cơ sở để chuyển từ phương thức sản xuất đơn lẻ sang phát triển chuỗi giá trị, gắn sản xuất với truy xuất nguồn gốc và kiểm soát chất lượng từ khâu đầu vào.
Tuy vậy, chất lượng giống vẫn là một trong những yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả sản xuất. Trong khi đó, Thanh Hóa đặt mục tiêu năm 2026 có 10.000 ha đất nông nghiệp được tích tụ, tập trung để sản xuất quy mô lớn, trong đó có 2.000 ha ứng dụng công nghệ cao; định hướng đến năm 2030 đạt 10.000 ha đất sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao. Điều này đặt ra yêu cầu phát triển nguồn giống chất lượng, đồng nhất, đáp ứng nhu cầu sản xuất hàng hóa quy mô lớn.
Dứa MD2 nuôi cấy mô – hướng đi nâng cao chất lượng giống
Theo Đề án Phát triển cây ăn quả tập trung trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa đến năm 2025, định hướng đến năm 2030, dứa là một trong những cây trồng chủ lực được tỉnh tập trung phát triển, với diện tích dự kiến duy trì khoảng 3.500 ha, sản lượng 110.250 tấn/năm. Trong khi đó, theo số liệu hiện trạng năm 2025, diện tích dứa của tỉnh đạt gần 4.000 ha, cho thấy quy mô sản xuất và nhu cầu về nguồn giống phục vụ phát triển vùng nguyên liệu rất lớn.
Toàn tỉnh Thanh Hoá hiện đã có 121 mã số vùng trồng với tổng diện tích 1.125 ha, thuộc các nhóm cây lúa, cây ăn quả và rau màu. Việc mở rộng sản xuất theo hướng chuẩn hóa, minh bạch nguồn gốc và đáp ứng yêu cầu thị trường càng đòi hỏi chất lượng giống phải được kiểm soát ngay từ đầu.
Trong sản xuất đại trà, phương pháp nhân giống dứa truyền thống còn một số hạn chế như hệ số nhân thấp, khó bảo đảm sự đồng đều về sinh trưởng, tiềm ẩn nguy cơ lây lan mầm bệnh và mất nhiều thời gian để cung ứng đủ số lượng cây giống cho vùng trồng lớn.
Công nghệ nuôi cấy mô tế bào có thể khắc phục những hạn chế này nhờ khả năng nhân nhanh số lượng lớn cây giống đồng đều, sạch bệnh khi được sản xuất theo quy trình kiểm soát phù hợp, đồng thời tạo thuận lợi cho việc tổ chức trồng tập trung và bố trí mùa vụ. Trong đó, MD2 là giống dứa có giá trị thương mại cao, được thị trường quan tâm nhờ chất lượng quả và độ đồng đều.
Việc sử dụng cây giống MD2 nuôi cấy mô có thể góp phần nâng cao tính đồng nhất của vùng nguyên liệu, đáp ứng yêu cầu của hoạt động chế biến, tiêu thụ quả tươi. Tuy nhiên, hiệu quả thực tế còn phụ thuộc vào điều kiện canh tác, quy trình chăm sóc và khả năng liên kết tiêu thụ sản phẩm.

Diện tích vườn ươm giống dứa MD2 nuôi cấy mô của Trung tâm nghiên cứu, khảo nghiệm và dịch vụ giống cây trồng Thanh Hóa.
Từ mô hình thực tế đến khả năng nhân rộng
Sau khi được Trung tâm Nghiên cứu, khảo nghiệm và dịch vụ giống cây trồng Thanh Hóa (Viện Nông nghiệp Thanh Hóa) chuyển giao kỹ thuật, anh Nguyễn Phương Nam, ở thôn 6, xã Xuân Minh đã tổ chức sản xuất khoảng 2 ha dứa MD2 nuôi cấy mô trong vụ dứa năm nay.
Sau hơn 6 tháng, cây dứa sinh trưởng, phát triển tốt. Anh Nguyễn Phương Nam chia sẻ: "Gia đình tôi đã có hàng chục năm sản xuất dứa nguyên liệu. Đây là vụ đầu tiên sản xuất giống dứa MD2. Nhờ chăm sóc đúng quy trình nên cây trồng phát triển tốt, toàn bộ diện tích dứa đã được doanh nghiệp ký kết bao tiêu sản phẩm từ đầu vụ. Dự tính cây dứa MD2 cho năng suất, chất lượng cao hơn những giống dứa đại trà khác. Sau vụ này, chúng tôi sẽ nhân rộng sản xuất dứa MD2 ra toàn bộ diện tích đồi của gia đình".
Mô hình bước đầu cho thấy sự quan tâm của người sản xuất đối với giống dứa mới có ứng dụng công nghệ sinh học, đồng thời cho thấy vai trò của chuyển giao kỹ thuật và liên kết tiêu thụ trong phát triển vùng nguyên liệu. Kết quả về năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế cần tiếp tục được theo dõi, đánh giá qua các vụ sản xuất để có cơ sở xác định khả năng nhân rộng.
Về lâu dài, việc ứng dụng công nghệ sinh học trong phát triển giống cây trồng chủ lực tại Thanh Hóa cần gắn với kiểm soát chất lượng cây giống, hoàn thiện quy trình canh tác, tăng cường liên kết giữa cơ sở nghiên cứu, đơn vị cung ứng giống, người sản xuất và doanh nghiệp tiêu thụ.
Khi các khâu từ nghiên cứu, chuyển giao đến tổ chức sản xuất và tiêu thụ được kết nối đồng bộ, khoa học và công nghệ sẽ phát huy tốt hơn vai trò nâng cao chất lượng vùng nguyên liệu, gia tăng giá trị nông sản và thúc đẩy phát triển nông nghiệp theo hướng hiện đại, bền vững.


